Saturday, September 12, 2009

*Viết Về Huyền Thoại Lê Minh Bằng

HUYỀN THOẠI LÊ MINH BẰNG
(The Legendary Lê Minh Bằng)


Vào ngày 26 tháng 8 năm 2006 sắp tới đây, Trung Tâm ca nhạc Asia sẽ tổ chức một chương trình đại nhạc hội trực tiếp thu hình cho Asia DVD 52 tại thành phố Houston, tiểu bang Texas với chủ đề “Huyền Thoại Lê Minh Bằng” (The Legendary Lê Minh Bằng). Chủ đề này nghe thật là hấp dẫn, với sự cộng tác của số lượng ca nhạc sĩ đông đảo nhứt từ trước tới nay (theo như bích chương quảng cáo của Trung Tâm Asia). Tuy các nhạc phẩm của Lê Minh Bằng đã được trình diễn rất nhiều lần khắp nơi ở hải ngoại suốt ba mươi năm nay, nhưng có lẽ phần đông khán giả (nhứt là giới trẻ được sinh ra và lớn lên sau năm 1975) vẫn chưa biết thật rõ ràng, rành mạch về tác giả Lê Minh Bằng và những huyền thoại còn phủ kín chung quanh nghệ danh rất nổi tiếng này.

Ngược dòng thời gian và không gian để quay về thời điểm của năm 1966 ở Việt Nam, tức là cách đây đúng 40 năm, bỗng dưng trên các hệ thống đài phát thanh, truyền hình có một bài hát được rất nhiều khán thính giả ưa thích với những lời ca như:

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?

Đó là bài “Đêm Nguyện Cầu” ký tên tác giả là Lê Minh Bằng, một cái tên xa lạ lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường âm nhạc ở miền nam Việt Nam. Ở phần trên của các dòng nhạc trong bản nhạc này có những lời giới thiệu như sau:

“Kính dâng tổ quốc mến yêu.
Chân thành ghi ơn những người đã và đang chiến đấu cho hòa bình Việt Nam.
Lê Minh Bằng, Quốc khánh 1966


Bài hát này được ca sĩ Thanh Vũ trình bày lần đầu tiên trên đài phát thanh. Thanh Vũ là một ca sĩ khá đẹp trai, cao ráo, thường hát chung với Nhật Trường, Duy Khánh và Hùng Cường trên các sân khấu đại nhạc hội. Ca sĩ Thanh Vũ cũng hay song ca với Hoàng Oanh và Thanh Tuyền khi thâu thanh vào dĩa nhựa. Cũng chính bài hát “Đêm Nguyện Cầu” này đã đưa tên tuổi Chế Linh lên đài danh vọng khắp từ Bến Hải đến Cà Mau, như những tiếng rên siết, kêu than cho thân phận người dân trong thời chinh chiến đang mơ ước thanh bình. Bài hát này được tung ra vào đúng thời điểm chiến cuộc ở miền Nam Việt Nam đang leo thang với sự xâm nhập ồ ạt của bộ đội miền Bắc và những cán bộ tập kết từ năm 1954 đang hồi kết, gây chiến tranh đau thương tang tóc khắp nơi. Quân đội đồng minh Hoa Kỳ cũng đang đổ bộ vào miền Nam để tiếp tay với chánh quyền VNCH nhằm ngăn chận hiểm họa cộng sản và bảo vệ miền Nam được dân chủ, tự do lâu dài. Cho nên khán giả khắp nơi đã mau chóng đón nhận bài hát này, như những lời tâm sự rất xác thực để nói lên những ước vọng của dân chúng khắp nơi. (Ở hải ngoại sau này trong Video Asia 15: Tình Ca Anh Bằng, ca sĩ Elvis Phương đã hát bài Đêm Nguyện Cầu này). Sau đó là một loạt những bài hát khác của nhóm Lê Minh Bằng ra đời và được rất nhiều người ưa thích như Hai Mùa Mưa, Lẻ Bóng, Sầu Lẻ Bóng, Chuyện Hai Chúng Mình, Đôi Bóng, Tình Đời..v.v. Bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa được nhóm Lê Minh Bằng phổ nhạc và đặt tên là “Nếu Vắng Anh” khiến cho giới trẻ rất yêu thích vì có những câu thơ rất lãng mạn như:

Không có anh …. lấy ai đưa em đi học về ?
Lấy ai viết thư ….cho em mang vào lớp học ?
Ai lau nước mắt … khi em ngồi khóc ?
Ai đưa em đi chơi …trong chiều mưa …?

Vào lúc đó chỉ có một số rất ít người có liên hệ với sân khấu ca nhạc và giới ký giả kịch trường biết được Lê Minh Bằng là bút hiệu chung của ba nhạc sĩ nổi tiếng thời bấy giờ là Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Nhưng lý do vì sao mà họ hợp tác chung với nhau, ai là người viết nhạc, ai là người đặt lời, ai là người đặt tựa thì ít ai biết và họ đã kiếm được bao nhiêu tiền, chia chác ra sao, thành công hay thất bại thì cho tới nay vẫn còn là “huyền thoại” tức là vẫn còn là điều bí ẩn chưa được giải đáp một cách rõ ràng, thỏa đáng.



Theo tiết lộ của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật xuất bản ở Canada, lúc đầu khi thành lập Nhóm Lê Minh Bằng (1966)thì ba người nhạc sĩ này đã họp lại và bàn bạc với nhau về đường lối sáng tác những bản nhạc của nhóm mình. Đó là làm sao mà sáng tác ra loại nhạc hợp với mọi tầng lớp dân chúng từ thành thị tới thôn quê, để ai cũng có thể thưởng thức được. Như vậy những bài hát này phải có lời ca trong sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Giai điệu và tiết tấu cũng nên đơn giản để dễ tập đàn, dễ tập hát (như điệu boléro, rumba slow, slow rock, boston…chẳng hạn). Nói tóm lại là nhạc và lời phải thật dễ thương, âm điệu uyển chuyển khiến người nào nghe một lần là còn nhớ thoang thoảng trong lòng. Vì là bước đầu thử nghiệm, nên cả nhóm không biết là những bài hát này sẽ thành công hay không, sẽ được nhiều người ưa thích hay chê bai? Để tránh trường hợp thất bại xảy ra có ảnh hưởng đến tên tuổi của cả ba nhạc sĩ này, thì cách tốt nhứt là chọn ra vài cái biệt hiệu khác nhau để ký tên lên các bài hát mới thử nghiệm này. Nhưng kết quả thật quá bất ngờ, đến nổi cả ba người nhạc sĩ này không tin rằng đó là sự thật. Vì sau khi những bài hát của nhóm tung ra, số lượng các bản nhạc in (music sheets) bán được khắp nơi đã tăng nhanh vùn vụt (sẽ kể thêm ở đoạn sau) và nhóm Lê Minh Bằng đã thành công vượt bực để trở thành “huyền thoại” sau này.

Trong nhóm Lê Minh Bằng này, người lớn tuổi nhất là nhạc sĩ Anh Bằng. Tên thật của ông là Trần An Bường và sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa. (cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía nam). Theo học Trung học ở Hà Nội trước khi di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975. Kế đó là nhạc sĩ Minh Kỳ sinh năm 1930 tại Huế. Ông thuộc dòng dõi hoàng tộc và tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, có vai vế ngang hàng với vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) và phục vụ trong ngành cảnh sát VNCH với cấp bực Đại Úy vào năm 1975. Trẻ nhất trong nhóm là nhạc sĩ Lê Dinh (tên thật là Lê Văn Dinh) sanh ngày 8 tháng 9 năm 1934 tại làng Vĩnh Hựu thuộc tỉnh Gò Công. Ông ghi tên học hàm thụ âm nhạc với trường Ecole Universelle de Paris khi còn học Trung học ở Gò Công. Năm 22 tuổi, ông sáng tác bài hát đầu tiên là “Làng Anh, Làng Em”. Ông học trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện Sài Gòn (1953-1955), dạy học (1955-1957) và làm công chức cho đài phát thanh Sài Gòn từ năm 1958 cho đến tháng Tư năm 1975.(Chức vụ là Chủ Sự Phòng Sản Xuất rồi Chủ Sự Phòng Điều Hợp).

Trước khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng thì mỗi nhạc sĩ cũng đã tự mình tạo nên tên tuổi trong làng âm nhạc thời đó với số lượng và chất lượng của những tác phẩm nổi tiếng như Nỗi Lòng Ngưòi Đi, Nếu Vắng Anh, Tango Dĩ Vãng, Hẹn Anh Đêm Nay, Hận Tình, Còn Nhớ Hay Không…(Anh Bằng), Biệt Kinh Kỳ, Lá Vàng Rơi, Năm Ngọn Núi Ngũ Hành, Thương Về Miền Trung, Nhớ Nha Trang, Thương Về Miền Đất Lạnh…(Minh Kỳ), Tấm Ảnh Ngày Xưa, Cánh Thiệp Hồng, Nỗi Buồn Châu Pha, Chiều Lên Bản Thượng, Xác Pháo Nhà Ai, Ga Chiều ...(Lê Dinh).

Trong công việc hùn hạp, làm ăn với nhau, người Việt mình kỵ nhất là sự hợp tác giữa ba người. Nhưng nhóm Lê Minh Bằng không tin dị đoan, nên quyết tâm cộng tác với nhau như một công ty đàng hoàng. Cũng có thể gọi là huyền thoại vì đây là sự kết hợp khá lạ lùng giữa ba người nhạc sĩ của ba miền đất nước là Nam Trung Bắc lại với nhau. Ngoài việc sáng tác nhạc thì họ còn làm việc ở cả ba lãnh vực khác nhau (kinh doanh, công chức, cảnh sát).

Những hoạt động chính yếu của Nhóm Lê Minh Bằng:

(1)-Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” ở tại số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Cả ba nhạc sĩ này thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm pháp) và thực hành (luyện giọng, xướng âm). Thế nào là lên tông, xuống tông, thăng, giáng, nhịp đôi, nhịp ba, tại sao bài hát này là âm giai trưởng, âm giai thứ? Giờ lý thuyết của thầy Minh Kỳ rất là nghiêm trang, kỷ luật. Học viên không được đùa giỡn với nhau mà phải chăm chú lắng nghe phần lý thuyết khô khan này. Nhưng đến giờ của thầy Anh Bằng và Lê Dinh thì lớp học rất vui, khi các thầy cầm đàn guitar đệm những bài ca cho học viên thực tập. Có khoảng chừng một trăm học viên nam nữ theo học và sau này đã có những ca sĩ nổi tiếng như Kim Loan, Giáng Thu, Mạnh Quỳnh (ngày xưa, không phải MQ ở hải ngoại sau này), Hải Lý, Trang Mỹ Dung, Nhật Thiên Lan, Thu Thủy ...có rất nhiều học viên đã bỏ cuộc giữa đường, tìm nghề khác thích hợp hơn.

(2)-Thành lập ban nhạc mang tên là Sóng Mới chuyên trình diễn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng).

(3)-Cố vấn cho ông Nguyễn Tất Oanh, giám đốc hãng dĩa hát Asia và nhà xuất bản Sóng Nhạc ở số 37 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ để thu thanh vào dĩa nhựa và ấn hành các bản nhạc rời để tung ra thị trường.

(4)-Phụ trách trong việc tổ chức Chương Trình Tuyển Lựa Ca Sĩ được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện và được trực tiếp truyền thanh trên toàn quốc vào mỗi sáng Chủ Nhựt. Cuộc thi này rất hào hứng từ hàng chục năm rồi và đã lựa chọn được những ca sĩ tên tuổi thắng giải như Tùng Lâm, Duy Khánh (Tăng Hồng), Hùng Cường, Vân Hùng, Hoàng Yến, Bích Thủy …Đầu tiên là thí sinh trải qua phần phúc khảo, ba tháng sau vào phần bán kết và sau đó là phần chung kết. Ai hát được đúng nhịp và đừng bỏ cuộc nửa chừng của bài hát thì được ban giám khảo cho điểm trung bình là 13 điểm (theo thang điểm tối đa 20). Xen kẽ chương trình thi là các màn phụ diễn văn nghệ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp của nhóm Lê Minh Bằng và vài nhóm khác.

(5)-Sáng tác, xuất bản và phổ biến các tác phẩm âm nhạc được ký tên với nhiều bút hiệu khác nhau như Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường. v.v. ….Lợi tức thu được từ việc xuất bản và phát hành những bản nhạc sáng tác chung này là những món tiền khổng lồ thời bấy giờ. Đây chính là sự thành công to lớn nhứt của nhóm Lê Minh Bằng. Thành công ở địa hạt này cho đến nay vẫn còn là “huyền thoại” mà nếu không nghe chính những nhạc sĩ này kể ra rõ ràng, thì ít có ai tin rằng đó là sự thật.

Nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm Lê Minh Bằng:

Điều đầu tiên mà mọi người vẫn thường hay thắc mắc là trong một bản nhạc của nhóm Lê Minh Bằng thì ai là người viết nhạc và ai là người viết lời (tức là giai điệu và ca từ)? Theo sự tiết lộ của thi sĩ Nguyên Sa, là một người bạn rất thân với nhạc sĩ Anh Bằng, qua một bài viết trước kia thì hầu như nhạc sĩ Anh Bằng là người sáng tác tất cả những bài hát của nhóm Lê Minh Bằng. Ông sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời của các bài ca. Hai nhạc sĩ kia là Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý và sửa chữa chút ít mà thôi trước khi cho phổ biến. Sự phân công về nhiệm vụ của từng người cũng rất lạ lùng và rất thuận tiện tùy theo nghề nghiệp và sở thích của mỗi người.

Nhạc sĩ Anh Bằng là người trầm lặng, ít nói, không thích xuất hiện trên sân khấu hay trước đám đông. Ông thích dành nhiều thì giờ cho việc suy tư, yên lặng sáng tác theo tâm hồn nghệ sĩ của ông. Ông có một tâm hồn hết sức bén nhạy, dễ xúc cảm và cực kỳ lãng mạn (theo lời Nguyên Sa). Nên ông lãnh phần sáng tác các ca khúc cho nhóm. Còn nhạc sĩ Lê Dinh là công chức ở đài phát thanh Sài Gòn, nên ông có dịp theo dõi, liên lạc với các ban nhạc cộng tác với đài. Ông cũng góp ý và giúp cho việc phát thanh, phổ biến những sáng tác mới theo yêu cầu của khán giả khắp nơi liên lạc về đài. Riêng Minh Kỳ là Đại Úy cảnh sát nên lãnh nhiệm vụ giao dịch với các nhà in để thúc hối họ in ra kịp thời hạn những bản nhạc cần gởi đi các đại lý, cửa hàng văn hóa phẩm để bán.

Ở đây cũng cần phải nhắc lại về việc sản xuất và tiêu thụ âm nhạc cách đây hơn 40 năm rất là khác xa với thời đại hiện giờ. Ở nước ta thời đó, số lượng máy hát dĩa và dĩa nhựa còn khá mắc tiền, nên việc bán những dĩa nhựa còn rất hạn chế. Đa số dân chúng khắp nước từ thị thành tới thôn quê yêu thích tân nhạc đều nghe nhạc từ đài phát thanh và tìm mua những bản nhạc về tập hát, tập đàn. Những bản nhạc này (music sheet) được in trên giấy cứng xếp lại làm đôi, kích thước bề dài là 30 phân, bề ngang là 22 phân (tức là khổ giấy A3 hiện nay). Nhạc và lời được chép vào 2 trang trong (trang ruột), còn trang 1 tức là bìa bản nhạc thì được vẽ hình, hoặc chụp hình ca sĩ và viết tựa bài nhạc, tên tác giả. Trang bìa sau (tức trang 4) là để in mục lục các bài nhạc cùng tên tác giả hoặc cùng nhà xuất bản. Những nhà xuất bản nổi tiếng thời đó là Tinh Hoa Miền Nam, Sống Chung, Á Châu, Minh Phát, An Phú. Nếu ai không có tiền mua ấn bản của các nhạc phẩm thì họ mua tập vở học trò có kẻ hàng sẳn, kẻ thêm nét mực đậm lên các hàng là có được những khuôn nhạc để tìm mượn các bài hát và chép lại để dành cho việc tập đàn, tập hát.

Mỗi một bản nhạc như vậy được bán với giá 5 đồng VNCH. Có nhiều bài
hát của nhóm Lê Minh Bằng vừa xuất bản lần đầu 10,000 ấn bản đã bán sạch hết trong tuần lễ đầu tiên. Các đại lý liên lạc yêu cầu tái bản thật nhanh để tung ra thị trường. Thành công vượt bực trong những nhạc phẩm của nhóm Lê Minh Bằng là “Chuyện Tình Lan Và Điệp”. Đi đâu cũng nghe có người ca:

“Tôi kể người nghe chuyện tình Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng,
Lúc tuổi còn thơ, tôi vẫn thường mộng mơ đem viết thành bài ca ,
Thuở ấy Điệp vui như bướm trắng, say đắm bên Lan, Lan như bông hoa ngàn”

Trên đài phát thanh, khán giả yêu cầu phát thanh “Chuyện Tình Lan và Điệp” hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trường. Khán giả yêu cầu “Lan & Điệp” mười lần thì các bài hát khác chỉ yêu cầu có một lần mà thôi. Các bản nhạc in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Chuyện Tình Lan và Điệp 1,2,3” ròng rã suốt ngày đêm. Tổng cộng là gần 4 triệu năm trăm ngàn bản nhạc được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc là 5 đồng thì công ty Lê Minh Bằng đã thu về được gần mười lăm triệu đồng bạc VNCH sau khi trừ đi những phí tổn linh tinh. Tỉ giá hối xuất lúc đó là 70 đồng VNCH thì bằng một đô-la Mỹ. Như vậy tính sơ sơ thì cả ba nhạc sĩ này cũng kiếm được hơn 200,000 dollars Mỹ vào thời đó rồi. Nhạc sĩ Anh Bằng đã kể cho thi sĩ Nguyên Sa biết là “dạo đó tiền vào như nước”. Đúng là một huyền thoại khó quên. Sau khi bán các bản nhạc này thì họ lại còn bán được bản quyền cho nhà sản xuất dĩa nhạc Asia để thu thanh vào dĩa nhựa. Không phải chỉ có Chuyện Tình Lan Và Điệp, Đêm Nguyện Cầu là bán mạnh, mà tiếp theo còn có rất nhiều bài khác như Gõ Cửa, Căn Nhà Ngoại Ô, Nhật Ký Hai Đứa Mình, Phượng Hồng Phượng Tím, Linh Hồn Tượng Đá, Đêm Vũ Trường, Tình Đời, Sầu Tím Thiệp Hồng, Một Chuyến Xe Hoa, Hai Sắc Hoa Ti-Gôn, Tango Dĩ Vãng, Huế Xưa, Kiếp Cầm Ca, Xin Còn Gọi Tên Nhau …Có bài phải in ra hơn 100,000 ấn bản mới đủ để phát hành khắp miền Nam lúc đó.

Với sự thành công của nhóm Lê Minh Bằng như vậy thì không phải là họ độc chiếm thị trường âm nhạc theo kiểu “một mình một chợ” dù là họ đã ký tên với rất nhiều bút hiệu khác nhau. Họ cũng phải cạnh tranh với rất nhiều nhạc sĩ nổi danh khác chuyên môn sáng tác những bài hát theo thể điệu boléro, rumba như Lam Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, Hoài Linh....và đặc biệt nhất là Trúc Phương. Đây là một nhạc sĩ trẻ vừa xuất hiện với một hào quang sáng chói và chỉ một thời gian ngắn đã lấn át các đàn anh nêu trên. Nhạc của Trúc Phương cũng chỉ là nhạc phổ thông quần chúng, nhưng lời ca thì rất đẹp, rất nên thơ vượt trội các nhạc sĩ đương thời. Nên không lâu sau đó các bài hát của Trúc Phương như Tàu Đêm Năm Cũ, Nửa Đêm Ngoài Phố, Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm, Ai Cho Tôi Tình Yêu …và nhứt là Trên Bốn Vùng Chiến Thuật và Hai Mươi Bốn Giờ Phép đã được đón nhận khắp nơi. Liền sau đó có ba nhạc sĩ cũng hợp tác thành một bộ ba y chang như nhóm Lê Minh Bằng là nhóm Trịnh Lâm Ngân, cũng có những cách thức làm việc từa tựa nhóm kia. Họ là nhạc sĩ Trần Trịnh, nhạc sĩ Nhật Ngân và một người bạn là Lâm Đệ, vốn là con trai của một trung tâm thu thanh (trong đó phần sáng tác chính là do nhạc sĩ Nhật Ngân đảm trách). Nhóm ba người Trịnh Lâm Ngân này cũng tung ra được gần ba chục bài hát rất nổi danh như Xuân Này Con Không Về, Qua Cơn Mê, Yêu Một Mình, Hờn Anh Giận Em, Tình Kỷ Nữ … Nhưng họ không thành công lắm trên phương diện thương mại và không tạo nên “huyền thoại” bằng nhóm Lê Minh Bằng.

Việc phân chia lợi nhuận và tác quyền của các thành viên trong nhóm:

Lợi tức của nhóm Lê Minh Bằng thu vào được hàng triệu đồng như vậy, thì việc phân chia làm sao? Nhạc sĩ Anh Bằng cho biết là mọi khoản tiền kiếm được đều được chia ra đồng đều làm ba phần cho ba nhạc sĩ, bất kể là nhiệm vụ của mỗi người ra sao. Công ty huyền thoại Lê Minh Bằng này đã hoạt động liên tục thành công như vậy đó trong suốt chín năm trời (1966-1975) và đã kiếm được hàng chục triệu đồng VNCH và họ
cũng đã là những nhạc sĩ giàu nhứt thời đó. Nhưng ngoài việc hợp tác làm ăn chung này thì cả ba nhạc sĩ này cũng có làm ăn riêng rẽ, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của từng người.

Giàu nhất trong bộ ba này là nhạc sĩ Anh Bằng. Ngoài lãnh vực kinh doanh âm nhạc, gia đình ông còn có những cơ sở thương mại khác hái ra bộn tiền như hệ thống các quán cà phê có thương hiệu là Làng Văn ở đường Phan Kế Bính và Trần Quang Khải (Sài Gòn). Chủ nhân của lò bánh mì Michou Frères ở đường Trần Quang Khải cũng là Anh Bằng. Ông cũng là sở hữu chủ của một công ty xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn–Đà Lạt. Tất cả những công việc giao dịch kinh doanh này ông đều giao cho các quản lý điều khiển để ông dành hết thì giờ vào nghệ thuật âm nhạc của ông. Có lẽ đã nhiều lần những người tài xế và lơ xe đò của chiếc xe này không bao giờ biết được thỉnh thoảng lại có một người đàn ông trung niên lặng lẽ ngồi ở băng sau chót của chiếc xe đò chạy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Ông ngồi im lìm thả hồn vào những cảnh vật ở hai bên đường mà trầm tư suy nghĩ như quên hết mọi chuyện xung quanh. Người đàn ông bí ẩn đó cũng chính là chủ nhân ông của chiếc xe đò này. Để rồi khi trở về nhà nhạc sĩ đã sáng tác ra "Đà Lạt Hoàng Hôn” do cảm xúc từ những chuyến đi một mình. Rất ít khi người ta thấy ông xuất hiện ở trên đài phát thanh hay đài truyền hình hoặc những nơi chốn có đông đảo mọi người. Trước năm 1975, tuy là nhạc sĩ của hơn 350 bài hát có số ấn bản hàng triệu bản nhạc in, bài nào cũng được thu thanh và phát thanh hàng trăm lần, nhưng trước sau ông chỉ đến Đài Phát Thanh Sài Gòn khoảng chừng ba lần để nghe và xem Thanh Thúy thâu Sầu Lẻ Bóng, Lệ Thu thâu Nước Mắt Một Linh Hồn và Thanh Vũ thâu Đêm Nguyện Cầu.

Cùng gia đình di tản sang Mỹ từ năm 1975 với số tuổi vừa đúng 50, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes tên là Dạ Lan (1981-1990). Trung tâm này đã từng chiếm lĩnh thị trường nhiều năm với những tiếng hát như Ngọc Lan, Tuấn Vũ, Sơn Tuyền, Như Mai... và “Ngũ Long Công Chúa” gồm có Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hải Lý, Kim Anh ..qua các băng nhạc Lê Minh Bằng 1, Lê Minh Bằng 2, Lê Minh Bằng 3... Ngoài ra ông còn trình diễn ở ban nhạc lưu động với những giọng ca như Ngọc Lan, Kiều Nga, Thy Vân, Hải Lý, Như Mai ....Rồi làm cố vấn cho Trung Tâm Asia Entertainment sau này (kể từ năm 1990). Trong suốt ba mươi mốt năm qua, nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng sáng tác. Nếu trước năm 1975 số lượng các nhạc phẩm phổ thơ của ông chiếm chừng 10% trong tổng số các bài hát do ông sáng tác, thì sau này ra hải ngoại số bài hát phổ thơ hoặc lấy ý từ những bài thơ sẽ nhiều hơn như Trúc Đào, Chuyện Hoa Sim, Chuyện Giàn Thiên Lý, Về, Hiến Chương Tình Yêu, Anh Còn Nợ Em, Gửi Người Dưới Mộ, Chuyện Tình Hoa Trắng, Truyện Kiều...v..v.

Người thứ nhì trong nhóm Lê Minh Bằng cũng rất may mắn là nhạc sĩ Lê Dinh. Tuy ông là một công chức thâm niên của Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng) liên tục từ năm 1958 cho đến năm 1975, nhưng ông không bị bắt đi học tập cải tạo nhiều năm. Lúc làm việc cho đài phát thanh, ông cũng có viết vài bài nhạc hùng tuyên truyền cho những chiến dịch tố cáo tội ác của cộng sản nhưng rất nhẹ nhàng. (Trong khi nhạc sĩ Minh Kỳ có viết vài bài hùng ca rất mạnh mẽ như Biệt Động Quân, Cảnh Sát Hành Khúc…). Bị kẹt lại ở Sài Gòn sau năm 1975, mãi cho đến ba năm sau ông mới cùng gia đình vượt biển thành công (tháng 8 năm 1978)và được một tàu hàng của Canada vớt mang vào Đài Loan tạm trú. Từ năm 1979 ông cùng gia đình sang định cư ở thành phố Montréal, Canada cho đến bây giờ. Ra hải ngoại ông không còn nhiều cảm hứng và môi trường thích hợp để sáng tác nữa mà chuyển sang lãnh vực làm đài phát thanh Việt ngữ và làm chủ nhiệm tờ nguyệt san Nghệ Thuật, trong đó ông viết rất nhiều bài vở. Những sáng tác sau này của Lê Dinh ở hải ngoại chỉ có vài bài như Thương Về Gò Công, Dòng Kỷ Niệm, Chữ Tình, Chỉ Là Phù Du, Bài Hát Của Người Điên, Nắng Bên Này Sông…

Nhạc sĩ Minh Kỳ đã chọn con đường binh nghiệp trong ngành cảnh sát từ những ngày còn trẻ. Ông có khả năng sáng tác nhạc rất nhanh và cũng rất hay. Ông thường viết ra một bản nhạc nhưng không viết lời ca liền lúc đó, mà hay nhờ người khác viết lời. Chẳng hạn như thi sĩ Hồ Đình Phương đã viết lời cho những bài Nha Trang, Thương Về Miền Trung ...của ông. Nhạc sĩ Lê Dinh cũng nhắc lại một kỷ niệm khó quên với Minh Kỳ như sau: vào tháng 11 năm 1964, nhạc sĩ Lê Dinh đang ngồi trong nhà ở cư xá Chu Mạnh Trinh (Phú Nhuận) thì nhạc sĩ Minh Kỳ chạy xe lambretta đến đưa cho Lê Dinh một bài nhạc còn ghi trên giấy nháp và nói ông vừa viết xong bài này mà chưa đặt lời và tựa được. Nhờ Lê Dinh soạn lời thật gấp, nội trong ngày mai phải xong để đem đưa nhà in và tung ra thị trường trước Tết Ất Tỵ này. Biết tánh tình hơi nóng nảy và gấp rút của Minh Kỳ, nên nhạc sĩ Lê Dinh đã thức trắng đêm và hoàn thành ra bài hát “Cánh Thiệp Đầu Xuân” rất nổi tiếng sau này. Hai nhạc sĩ này cũng soạn chung vài bài khác như Người Em Xứ Thượng, Hạnh Phúc Đầu Xuân, Mưa Trên Phố Huế, Một Chuyến Xe Hoa …



(Hình ba nhạc sĩ trước Trung Tâm phát hành nhạc Tinh Hoa, Sài Gòn, 1966. Ảnh tư liệu của gia đình nhạc sĩ Lê Dinh, Canada)

Huyền Thoại Lê Minh Bằng:

Hồi tưởng lại thời gian bốn chục năm về trước, khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng, ba người nhạc sĩ này đều tin tưởng vào sự thành công, đoàn kết một lòng do những sự nhiệt tình, tài sức của tuổi trẻ. Nhưng công ty này chỉ tồn tại đúng chín năm rồi tan rã theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Sau cuộc đổi đời đó thì mỗi người mỗi ngã, nếu ai không tin dị đoan cũng phải tin, khi tai họa đã giáng trúng vào nhạc sĩ Minh Kỳ trong “bộ ba” (trio) này. Vì là một Đại Úy phục vụ trong ngành cảnh sát của VNCH, nên nhạc sĩ Minh Kỳ bị bắt vào trại tập trung cải tạo ở căn cứ Long Bình, gần thành phố Biên Hòa. Trong những ngày hỗn loạn của tháng Tư năm 1975, nhạc sĩ Minh Kỳ đã từng tâm sự với Lê Dinh rằng, bằng cách nào ông cũng phải ráng dẫn theo đứa con trai trưởng (sanh năm 1966) ra nước ngoài (để sau này còn có cháu nội mà nối dõi tông đường). Nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông bị kẹt lại sau khi Sài Gòn thất thủ.

Về cái chết của ông ở trại cải tạo Long Khánh cho đến nay vẫn còn là huyền thoại, với những tin đồn sau này ở hải ngoại chưa được kiểm chứng. Theo một bài báo của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật (ở Canada) thì cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ thật là “lãng nhách” với những lý do khá mơ hồ và không sao hiểu nổi. Nguyên do có lẽ do một sự xích mích, gây gỗ gì đó xảy ra giữa người những người tù cải tạo với các bộ đội cộng sản canh giữ tù nhân. Họ thường hay mua bán đổi chác đường, sữa với nhau một cách trái phép với nội quy của trại. Nhưng không hiểu thù oán làm sao mà tên cán bộ hay bộ đội này đã cho nổ lựu đạn làm thiệt mạng người nhạc sĩ tài hoa này (trong khi ông không có dính líu gì trong việc trả thù của họ) vào tháng 9 năm 1975, khi ông vừa đúng 45 tuổi đời. Sau này có vài người con lớn của nhạc sĩ Minh Kỳ đã vượt biên được và bảo lãnh cho vợ ông và các các em cùng đoàn tụ với nhau trên đất Mỹ. Hiện nay người con trai lớn của ông đang sinh sống ở San Jose và vẫn còn độc thân. Hy vọng trong chương trình đại nhạc hội sắp tới đây, chúng ta sẽ được nghe chính những người thân nhân của nhạc sĩ Minh Kỳ giải đáp về những “huyền thoại” chung quanh cái chết của người nhạc sĩ vắn số này.

Nếu không có cuộc đổi đời xảy ra vào tháng Tư năm 1975 thì cho đến nay chắc có lẽ tình bạn và sự hợp tác của nhóm Lê Minh Bằng vẫn còn bền chặt ở trong nước cho đến tận bây giờ. Có thể nói “Huyền thoại Lê Minh Bằng” là:

-Một sự kết hợp kỳ diệu của ba miền đất nước thân yêu,
-Một quy tụ của ba nghệ sĩ có tính tình khác nhau: lãng mạn, nghiêm trang, khoan hòa nhân ái.

Tất cả đã tụ hội lại để phát huy khả năng sáng tác, thành công trên phương diện thương mại và góp phần to lớn vào gia tài âm nhạc của nước nhà với những “tình khúc thời chinh chiến” vẫn còn được ưa chuộng khắp mọi nơi cho đến tận ngày hôm nay. Sau chương trình Asia 51: “Nhạc Vàng 30 Năm Sau Cuộc Chiến” thì Trung Tâm Asia lại mang đến cho khán giả khắp nơi những hình ảnh và âm thanh của “Huyền Thoại Lê Minh Bằng” ở thời điểm của hơn 40 năm về trước. Đó là những di sản quý giá ở thời vàng son của âm nhạc Việt Nam hiện đại mà chúng ta mang theo được khi sống lưu vong nơi xứ người. Chúng ta cũng hãnh diện là Trung Tâm Asia đã thực hiện, lưu giữ và giới thiệu lại cho những thế hệ sinh ra và trưởng thành sau cuộc chiến gia tài âm nhạc quý giá này. Riêng những bậc cha ông cũng có dịp ôn lại quãng đời hoa mộng xinh tươi của thời son trẻ ngày nào qua tác phẩm nghệ thuật Asia DVD 52.

Thực ra, bài viết này cũng chỉ vén được rất ít những tấm màn bí ẩn còn bao phủ lên “huyền thoại” Lê Minh Bằng từ suốt bốn chục năm nay. Hy vọng là trong chương trình đại nhạc hội sắp tới, chúng ta sẽ có dịp được biết nhiều hơn những điều mới lạ được chính những nhân chứng trình bày về Lê Minh Bằng. Mặt khác, khán giả khắp nơi sẽ có dịp xem được những hình ảnh quý giá và những đoạn phim chưa hề công bố từ trước tới nay của gia đình ba người nhạc sĩ lừng danh này.

(31-7-2006)

*"Những Thiên Thần Trong Bóng Tối" Ở Chương Trình Asia 56.



LS Lê Thị Công Nhân và “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối
Ở Chương Trình Asia 56.


Trong chương trình đại nhạc hội trực tiếp thu hình cho Asia 56 vừa qua, nhận thấy tiết mục được hàng ngàn khán giả hiện diện hoan nghinh và tán thưởng nhiều nhất là bài hát “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối” do hai ca sĩ Y Phương và Diễm Liên trình bày. Sau đó toàn thể nghệ sĩ góp mặt trong chương trình Asia 56 đã cùng nhau cất vang tiếng hát để tiếp tục ngợi ca “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối” với những tràng pháo tay dường như không ngớt của khán giả trước phút chia tay.

Ðây là một sáng tác mới nhất của nhạc sĩ Trúc Hồ viết ra để vinh danh cho những tù nhân lương tâm và những chiến sĩ tranh đấu cho tự do, dân chủ ở khắp nơi trên thế giới. Trong số đó có nữ luật sư Lê Thị Công Nhân đang bị giam cầm ở Việt Nam. Như vậy, nếu bài hát này được dùng để kết thúc cho chủ đề “Yêu Người, Yêu Đời” thì có hợp tình hợp lý hay không? Xin thưa là rất hợp lý, tại vì trong suốt chương trình Asia 56 chúng ta đã thưởng thức những bài hát về quê hương, tình người, tình yêu đôi lứa và đã gặp những cá nhân, hội đoàn với tình thương bao la nhân ái đã và đang giúp đỡ cho nhiều người bất hạnh, cơ hàn(qua các video clips). Chúng ta cũng gặp những hoa hậu, người mẫu với nhan sắc và thời trang rực rỡ của mùa Hè.

Nhưng cũng vào cùng thời gian này ở khắp mọi nơi (trong cũng như ngoài nước VN) đang còn có những ý chí tranh đấu kiên trì cho tự do, dân chủ và công bằng xã hội của những người Việt Nam. Những người tù lương tâm đang bị giam cầm, áp bức ở trong nước và những chiến sĩ tự do ở khắp nơi đã được nhạc sĩ Trúc Hồ đặt cho tên gọi là “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối”.

Có thể nói, trong “bóng tối” của sự đàn áp và bất công, họ là những vị “thiên thần” đã đem ánh sáng soi đường dẫn lối cho lương tâm của nhân loại. Trong “đêm đen” của lịch sử, họ là những “thiên thần” dẫn dắt dân tộc giành lại tự do, công bình, bác ái cho một bình minh tươi sáng của Việt Nam.

Nữ ca sĩ Diễm Liên và Y Phương đã mở đầu bài hát “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối” bằng những lời ca đơn giản nhưng với một giai điệu êm ái mượt mà như đưa mọi người về chốn quê nhà yêu dấu vào thuở ấu thơ:

Từ khi tôi chào đời
Bập bẹ hai tiếng “VIỆT NAM”
Yêu quê hương qua từng trang sách …
Hùng Vương, Phù Đổng rạng ngời …

Trải qua bao thời đại …
Thăng trầm theo những buồn vui …
Quê hương sau ngày lửa khói …
“TỰ DO, HẠNH PHÚC” ... xa vời …


Phụ họa cho những câu hát này là đoạn phim video clip về một người con gái phi thường của đất nước Việt Nam ngày nay. Ðó là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân. Tuy cô được sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam (tỉnh Tiền Giang - Mỹ Tho) vào năm 1979, nghĩa là được giáo dục hoàn toàn dưới chế độ Cộng Sản, nhưng tâm hồn cô không Cộng Sản chút nào. Thay vì nghĩ đến hạnh phúc riêng tư của mình, với một nghề nghiệp vững chắc trong một gia đình êm ấm, cô Lê Thị Công Nhân lại chọn con đường đầy chông gai, hiểm trở và sẵn sàng chấp nhận tù đày để tranh đấu cho hạnh phúc của toàn dân.

Người thiếu nữ nhỏ bé này đã can đảm đứng lên đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái cho Việt Nam. Cô thật xứng đáng là một thần tượng mới nhất của tuổi trẻ Việt Nam ở khắp nơi. Theo lời thân mẫu của Lê Thị Công Nhân thì cái tên “Công Nhân” của cô có nghĩa là Công Bằng và Nhân Ái, hai yếu tố cần phải có trong một xã hội tốt đẹp, mà Mẹ cô luôn luôn ước nguyện cho Việt Nam. Ðúng như tên gọi, từ nhỏ cô bé “Công Nhân” đã ước ao trở thành một luật sư tài giỏi để có thể đấu tranh cho người dân trong một chế độ độc tài và áp bức.

Cô tốt nghiệp Cử nhân Luật vào năm 2001 khi vừa tròn 22 tuổi và đã bắt đầu viết nhiều bài tham luận chỉ trích Tổng Công Đoàn Việt Nam làm tay sai cho chính quyền, tố cáo CSVN vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, và cô kêu gọi quốc tế hỗ trợ để thành lập Công đoàn độc lập cho giới công nhân VN. Cô cũng là người rất tích cực trong việc mở các lớp học về dân chủ và nhân quyền.

Luật sư Công Nhân cũng là phát ngôn nhân của đảng Thăng Tiến (Vietnamese Progressive Party) và là thành viên của khối 8406 (là khối chính trị được thành lập ngày 8 tháng 4 năm 2006) cùng với luật sư Nguyễn Văn Đài và linh mục Nguyễn Văn Lý.

Sau nhiều lần bị công an thẩm vấn, tháng 3 năm 2007 cô đã bị bắt giam và bị kêu án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế. Cô thản nhiên đi vào nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội và đã tuyên bố như sau:

“-Nhà cầm quyền CSVN là một nhà cầm quyền phi nhân đạo, phi nhân bản, chuyên áp dụng bạo lực để đàn áp.
-Họ đã tịch thu tất cả quyền lãnh đạo đất nuớc và xã hội vào một nhóm người nhỏ bé để truờng kỳ thực hiện thi hành một chế độ độc tài.
-Tôi khẳng định với tất cả lương tâm, trách nhiệm của mình đối với đất nước và dân tộc VN, tôi sẽ đấu tranh tới cùng cho dù chỉ còn có một mình tôi tranh đấu.
-CSVN đừng mong chờ bất kỳ một điều gì gọi là thỏa hiệp chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.”

(LTCN- 11.5.2007)

Lời kêu gọi của nữ anh thư trẻ tuổi này đã được nhạc sĩ Trúc Hồ viết thành những lời ca sau đây:

“Bạn hãy cùng tôi ….
Thắp lên ngọn đuốc Việt Nam
Tình yêu, tự do, công lý
Bình an, hạnh phúc cho người …

Bạn hãy cùng tôi ….
Bước theo ngọn đuốc Việt Nam
Niềm tin ngày mai tươi sáng
Hiến dâng cuộc sống cho đời …”

Những lời phát biểu thật can trường và dũng cảm của luật sư Lê Thị Công Nhân chính là tiếng nói lương tâm của những người Việt Nam chân chính, cộng thêm với hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa án như tiêu biểu cho cái gọi là Công Lý của CSVN, khiến cho mọi người bàng hoàng xúc động. Gương tranh đấu của những thành viên khối 8406 và sự đàn áp dã man của chính quyền CSVN đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước.

Chính nhị vị Tổng Thống và Phó TT Hoa-Kỳ đã liên tiếp gặp gỡ và trao đổi ý kiến với đại diện của các hội đoàn người Mỹ gốc Việt để lắng nghe báo cáo trung thực về tình trạng nhân quyền ở VN. Nhưng đáng kể nhất là cộng đồng người Việt hải ngoại ở khắp nơi đã có những cuộc biểu tình rầm rộ, những đêm thắp nến nguyện cầu ... để ủng hộ cho lập trường đấu tranh của những nhà đối kháng và người dân thấp cổ bé miệng nơi quê nhà. (Tiêu biểu nhất vẫn là linh mục Nguyễn Văn Lý, hòa thượng Quảng Độ, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân, bác sĩ Nguyễn Đan Quế ..v..v..và hàng ngàn đồng bào bất chấp hiểm nguy để biểu tình khiếu kiện để đòi hỏi công bằng và tài sản bị cướp đoạt.)



Với sự ngưỡng mộ những tấm lòng quả cảm và anh dũng này, nhạc sĩ Trúc Hồ đã kết thúc bài hát để vinh danh cho những người tù lương tâm và chiến sĩ dân chủ bằng những lời ca như sau:

“NHỮNG THIÊN THẦN TRONG BÓNG TỐI

Mang ánh sáng … vào nơi tối tăm
Mang tình yêu … xóa tan hận thù
Mang tự do, công bình, nhân ái
Cho Việt Nam ngày mai … ngời sáng

VIỆT NAM, VIỆT NAM, VIỆT NAM...”

(Lời bài hát “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối”, Asia 56)

Bài hát được tất cả nghệ sĩ hiện diện của Trung Tâm Asia cùng nhau cất cao tiếng hát để gửi lời chào tạm biệt khán giả ở chương trình Asia 56, nhưng cũng là lời ca của một thông điệp chan chứa tình người của những tấm lòng yêu mến nghệ thuật, trân trọng gửi đến đồng bào khắp nơi trên toàn thế giới, để góp sức vào công cuộc tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam.

Ca khúc “Những Thiên Thần Trong Bóng Tối” chứng tỏ là nhạc sĩ Trúc Hồ và các nghệ sĩ của Trung Tâm Asia đã dùng nghệ thuật để phục vụ rất tích cực cho công cuộc đấu tranh cho nhân quyền của hàng triệu người Việt Nam. Những vị “thiên thần” đã và đang tranh đấu cho người và cho đời để mọi người được cùng nhau “Yêu Đời và Yêu Người”.

(3.9.2007)

Thursday, September 10, 2009

* Viết về nhạc phẩm “Người Thương Binh”

NHẠC PHẨM “NGƯỜI THƯƠNG BINH
Ở CHƯƠNG TRÌNH ASIA 56
QUA TIẾNG HÁT ĐẶNG THẾ LUÂN




Trong chương trình đại nhạc hội trực tiếp thu hình cho DVD Asia 56 ở Houston vừa rồi (ngày 25 tháng 8, 2007), có một nhạc phẩm khá đặc biệt và đã khiến cho nhiều ngàn khán giả hiện diện xúc động, vỗ tay hoan hô rất lâu với phần trình diễn của nam ca sĩ Đặng Thế Luân trong bộ quân phục người lính Việt Nam Cộng Hòa. Bài hát có tên là “Người Thương Binh”. Đây là một trong những sáng tác mới nhất của nhạc sĩ Anh Bằng phổ theo một bài thơ của thi sĩ Thái Tú Hạp và được Đặng Thế Luân trình bày lần đầu tiên ở chương trình Asia 56 “Mùa Hè Rực Rỡ - Yêu Đời Yêu Người”.

Bài thơ này đã được thi sĩ Thái Tú Hạp sáng tác cách đây hơn 10 năm với cái tựa nguyên thủy là “Người Thương Binh Uống Rượu Bên Giòng Sông”.[*]

Đoạn đầu của bài thơ này như sau:

"Rượu uống bao nhiêu chiều rồi nhỉ
Chỉ thấy giòng sông đỏ dáng trời
Chỉ thấy lòng ta mưa chẳng tạnh
Sóng sầu nghiêng ngả mảnh hồn trôi

Bạn cứ đi. Đừng quên người ở lại
Ta một mình. Sống được với quê hương
Như mãnh thú khép mình trong phố nhỏ
Đốt hết tuổi đời nghiệt ngã đau thương.."


Những lời thơ phổ nhạc của “Người Thương Binh” tuần tự kể lại câu chuyện một lần tái ngộ của hai đồng đội trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đó là thi sĩ Thái Tú Hạp vừa ra khỏi trại tù cải tạo và gặp lại người bạn thương phế binh (đồng đội ngày xưa). Hai chiến hữu, kẻ mang vết thương thể xác, người mang vết thương tâm hồn, gặp lại nhau vào một buổi chiều bên bờ sông Hàn (Đà Nẵng). Không ngờ đó lại là lần hội ngộ cuối cùng và họ đã vĩnh viễn xa nhau. Một người ra đi theo diện HO, kẻ ở lại chết dần theo ngày tháng vì đói nghèo, bịnh tật. Để diễn tả cảm nghĩ của những đồng đội có cùng tâm sự đang lưu lạc ở bên này bờ đại dương, ca sĩ Đặng Thế Luân đã trình bày nhạc phẩm “Người Thương Binh” với giọng hát thật trầm buồn và như gửi gấm tâm sự của người cựu quân nhân vào từng lời ca, tiếng nhạc. Chàng thương phế binh đã nhớ lại thật rõ ràng những chiến tích ngày xưa:

"Bao lần bên giòng sông soi mặt
Thoáng nhớ mây trời đỉnh Chu phong
An Lộc - Khe Sanh - Đèo Lao Bảo
Tử sinh ta xem nhẹ như không

Ngày tháng rong chơi lửa reo đầu đạn
Ta giờ lạc mất những đường chim
Ngồi lại bên giòng u uất sử
Uống giọt cuối cùng máu rỉ từ tim

Chia với cỏ cây nỗi niềm tri kỷ
Nhân gian chừng như lãng quên ta
Chiều uống rượu bên giòng sông tủi nhục
Hát một mình bài hát cũ: Quốc Ca."

Đột nhiên ở cuối bài hát, những lời ca trầm hùng của bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa được cất cao lên khiến hàng ngàn khán giả hiện diện đã đồng loạt đứng dậy nghiêm chào để cùng trân trọng tưởng nhớ đến những đồng bào, đồng đội, những chiến sĩ và thương phế binh đã hy sinh cho đất nước VNCH thân yêu của chúng ta. Điều rất ngạc nhiên ở đây là có nhiều thế hệ khác nhau của người Việt ly hương đến dự đại nhạc hội đã cùng nhau lắng nghe bài hát Quốc Ca VNCH do Đặng Thế Luân hát ở đoạn sau một cách thật trang nghiêm:

“Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.
Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên.
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền..."

Hơn 32 mùa Xuân đã trôi qua, những đồng đội cũ trên chiến trường xưa ở quê nhà, ai còn ai mất, ai phiêu dạt quê người ? Mong là tất cả chúng ta sẽ dành ra vài phút để hồi tưởng lại những người thương phế binh bất hạnh ở quê nhà sau khi lắng nghe bài hát “Người Thương Binh” hoặc đọc lại bài thơ nguyên thủy của nhà thơ họ Thái để niềm thương, nỗi nhớ bổng dâng trào làm cay khoé mắt.

Trước khi Đặng Thế Luân bước ra sân khấu để hát bài “Người Thương Binh” này, nhiều ngàn khán thính giả hiện diện đã theo dõi trên màn ảnh truyền hình một đoạn video clip với những hình ảnh mới nhất vừa được thu hình tại Việt Nam, do các thiện nguyện viên thuộc một tổ chức nhân đạo ở Hoa Kỳ ghi nhận được trong dịp thăm viếng và trao quà cho những thương phế binh và gia đình của họ ở quê nhà.

Chắc chắn, khi xem DVD Asia 56 sắp được phát hành, chúng ta cũng sẽ vô cùng xúc động khi nghe MC nhạc sĩ Nam Lộc tâm sự như sau:

“…Trong số những hoàn cảnh đau xót nhất xảy ra sau ngày 30 tháng Tư, 1975 tại Sài Gòn là các thương phế binh của quân lực VNCH bị đuổi ra khỏi bệnh viện Cộng Hòa dù cho những vết thương chiến tranh của họ vẫn đang còn rỉ máu.

Nhiều người đã trở thành què cụt, mù lòa không ai giúp đỡ. Hầu hết phải sống với cuộc đời rách nát tả tơi. Có những thương binh đi xe lăn, suốt ngày lang thang bán vé số ngoài bến xe hoặc những khu chợ để còn được ngày hai bữa cơm. Khổ hơn nữa là những thương binh đã mất đi gần hết phần thân thể của mình, hoặc những người bị hư tủy sống, phải nằm liệt giường từ 32 năm nay. Họ đành phải trông nhờ vào lòng bố thí của những kẻ qua đường…”


Một lần nữa, bài hát này đã khiến cho đồng hương chúng ta nhớ lại những công tác gây quỹ từ thiện nhằm giúp đỡ cho các thưong phế binh quân lực VNCH và gia đình còn kẹt lại ở quê nhà. Đáng chú ý nhất vẫn là những nổ lực đóng góp công sức của các anh chị em nghệ sĩ của Trung Tâm Asia, Đài SBTN và thân hữu khắp nơi ở những Đại Nhạc Hội “Nhớ Ơn Anh” hay “Cám Ơn Anh Người Thương Phế Binh QLVNCH hàng năm.

Một trong những ca sĩ thường xuyên tình nguyện cộng tác với các buổi văn nghệ gây quỹ từ thiện không hề mệt mõi là Đặng Thế Luân. Kể từ khi cộng tác độc quyền cho Trung Tâm Asia trong vòng hai năm gần đây, Đặng Thế Luân đã trở nên rất bận rộn vì ngoài việc học hành, càng lúc anh càng được mời hát ở những chương trình văn nghệ live show nhiều hơn. Thời gian gần đây, anh cũng đã tập luyện và khởi sự hát vọng cổ trong những bản “tân cổ giao duyên” với Ngọc Huyền ở album CD “Lá Trầu Xanh”. Ngoài CD solo đầu tay “Khóc Mẹ Đêm Mưa” và CD song ca với Băng Tâm “Tìm Nhau Trong Kỷ Niệm”, sắp tới đây trung tâm Asia sẽ phát hành thêm một album CD solo khác nữa cho Đặng Thế Luân.

Điều đó cho thấy con đường ca hát của Đặng Thế Luân thật là may mắn và thuận lợi so với nhiều ca sĩ trẻ khác ở hải ngoại hiện nay. Trả lời cho một cuộc phỏng vấn trước đây, Đặng Thế Luân cũng đã nhìn nhận như vậy và tâm sự như sau:

“ Nếu có tài mà không gặp may mắn thì cũng khó có được thành công. Em biết nhiều người có tài nhưng không được may mắn... Đối với em, may mắn là một phần quan trọng trong sự nghiệp của mình.”

Nhưng thật ra Đặng Thế Luân cũng từng cho biết là anh luôn luôn cố gắng tìm cho mình một hướng đi riêng biệt khi diễn tả những bài hát trong giòng nhạc quê hương. Anh ráng tránh không hát giống như những giọng hát thần tượng của mình là cố ca nhạc sĩ Duy Khánh và ca sĩ Tuấn Vũ hiện nay. Nhà báo Trường Kỳ cũng đã có lần nhận xét về Đặng Thế Luân như sau:

“Vẫn những âm hưởng quen thuộc đó và vẫn những luyến láy không thể thiếu, nhưng người nghe sẽ nhận thấy nơi những ca khúc do Đặng Thế Luân trình bầy có phần mới mẻ hơn.”

Với những thành tựu kể trên, vào ngày 26 tháng 10 vừa qua Trung Tâm Asia và đài truyền hình SBTN đã phối hợp tổ chức một đêm văn nghệ “gặp gỡ và trò chuyện cùng khán giả” dành riêng cho Đặng Thế Luân và Băng Tâm tại phnòg thu hình studio của Đài SBTN. Kết quả rất thành công vì số vé mời đã hết sạch từ vài tuần trước.

Trở lại với chương trình đại nhạc hội thu hình cho DVD Asia 56. Thật là ngạc nhiên khi bài hát “Người Thương Binh” do Đặng Thế Luân trình bày lại là một trong những tiết mục được hoan nghinh nhiều nhất. Lý do có lẽ là vì Đặng Thế Luân đã diễn tả thật xuất sắc trong vai người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa qua một bài hát mới lạ do nhạc sĩ lão thành Anh Bằng vừa sáng tác. Bài hát cũng mang thật nhiều ý nghĩa dành cho những công tác cứu trợ thiện nguyện dành cho thương phế binh và quả phụ VNCH mà những nghệ sĩ của Asia luôn luôn gắn bó.

[*]GHI CHÚ:

Nguyên văn toàn thể bài thơ này như sau (cùng với bản dịch ra tiếng Anh).

NGƯỜI THƯƠNG BINH
UỐNG RƯỢU BÊN GIÒNG SÔNG


THÁI TÚ HẠP
(Để nhớ bạn trước ngày chia tay trên bến sông Đà Nẵng)

"Rượu uống bao nhiêu chiều rồi nhỉ
Chỉ thấy giòng sông đỏ dáng trời
Chỉ thấy lòng ta mưa chẳng tạnh
Sóng sầu nghiêng ngả mảnh hồn trôi

Bạn cứ đi. Đừng quên người ở lại
Ta một mình. Sống được với quê hương
Như mãnh thú khép mình trong phố nhỏ
Đốt hết tuổi đời nghiệt ngã đau thương

Bao lần bên giòng sông soi mặt
Thoáng nhớ mây trời đỉnh Chu phong
An Lộc - Khe Sanh - Đèo Lao Bảo
Tử sinh ta xem nhẹ như không

Ngày tháng rong chơi lửa reo đầu đạn
Ta giờ lạc mất những đường chim
Ngồi lại bên giòng u uất sử
Uống giọt cuối cùng máu rỉ từ tim

Chia với cỏ cây nỗi niềm tri kỷ
Nhân gian chừng như lãng quên ta
Chiều uống rượu bên giòng sông tủi nhục
Hát một mình bài hát cũ: Quốc Ca

Bao năm thấu triệt đời hư huyễn
Tâm động hồi chuông nhung nhớ quê
Tưởng đến ngày mai. Thầm ước nguyện
Giòng sông thắp nắng đón nhau về

Lâu quá hai phương trời cách biệt
Bạn hiền nay đã giạt về đâu!
Phố cũ chiều trôi đời nhạt nắng
Trong gió vọng nghe tiếng hát sầu ?!..."


THE WAR INVALID DRANK WINE
BESIDE THE RIVER CURRENT


English version by NGUYỄN HỮU LÝ
(In memory of a friend of mine before the farewell day
at the Danang river wharf)

How many eventides have we already drunk wine?
I only saw the river current with the red skyline
I only realized that my heart hasn't stopped raining yet
Melancholic waves oscillated my drifting mind

Just go on leaving! Never forget the remained behind person!
I was staying alone and capable of living in the homeland
That looked like a fierce animal confined itself in a small town
I set fine to my severe and painful age

Many times beside the river current where I mirrored my face
I recalled glimpsingly the cloudy sky over the Chu Phong summit
An Loc - Khe Sanh - Lao Bao Pass
I made light of life and death as if nothing had happened

I wandered aimlessly in days and months of fire and sword
I had lost my ways as the crow flies now
Sitting beside the historical current of spleen again
I drank the ultimate drop of wine as blood oozed out from the heart

I shared with grasses and vegetations a heart-to-heart confidence
This human world seemed to sink into oblivion of my presence
I drank wine in eventide beside the river of self-pity and shame
I sang alone the ancient song: the national anthem

So many years I thoroughly grasped the misleading existence
Peals of bells touched my heart with a fond remembrance of homeland
Thinking of tomorrow - I wished mutely
The river current bit the sunlight to welcome altogether back

Two sides of heaven were cut off long time ago
Oh, my dear friend! Where are you drifting away now?
The ancient town's life has gone by in a fading sunlight
In the windy sphere, the echo of a moping singsong was heard!...



Wednesday, September 9, 2009

*Nhận xét Về Asia 58 "Lá Thư Từ Chiến Trường"



Có thể nói đây là một chương trình thật xuất sắc và thành công nhất từ trước đến nay của Trung Tâm Asia như đã được nhiều khán giả đặt niềm tin, kỳ vọng và mong đợi từ lâu về một chủ đề nhằm tôn vinh những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Hai xuất hát đã bán hết sạch vé, nhứt là xuất hát buổi tối đã bán hết vé từ hơn 10 ngày trước khi khai mạc. Đặc biệt nhứt là lần đầu tiên có rất nhiều nam nữ khán giả đi xem đại nhạc hội đã mặc những bộ quân phục, lễ phục của các binh chủng Hải, Lục, Không quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa. Những hình ảnh này đã được đài truyền hình SBTN ghi lại qua phần phỏng vấn “Một Ngày Qua Ống Kính” khiến những khán giả ở xa không có dịp đi xem chương trình này lại càng náo nức, mong chờ cho đến ngày phát hành DVD.

Về phần nội dung thì đây là một chương trình mang thật nhiều ý nghĩa khiến khán giả hiện diện vô cùng cảm động. Có những tiết mục đã làm cho nhiều người rưng rưng nhỏ lệ, khi hồi tưởng lại một thời dĩ vãng đã mịt mờ trong tâm trí với những tình cảm đau thương buồn vui lẫn lộn, nhưng lại như hiện về rõ ràng trước mắt qua những âm thanh, ánh sáng và màu sắc chan hòa trên sân khấu Asia ngày hôm nay.

Toàn thể chương trình được tổ chức thật qui mô và tốn kém nhằm vinh danh cho tất cả những chiến sĩ thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm xưa đã vì nhiệm vụ, lý tưởng, danh dự và trách nhiệm mà hy sinh cả cuộc đời tươi trẻ với sứ mạng bảo vệ quê hương miền Nam được tự do, thanh bình, ngăn cản làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn về. Ngoài ra chương trình Asia 58 này cũng đã dành một phần nhỏ để ca ngợi những đóng góp của các hậu duệ của quân lực VNCH đang phục vụ trong quân lực Hoa Kỳ trên khắp các chiến trường nhằm đem lại bình yên và tự do cho tất cả chúng ta. Vì vậy, chương trình này không phải chỉ nhằm mục đích tiếc thương một quá khứ hào hùng hay ngậm ngùi cho thân phận người lính VNCH cùng vợ con của họ, mà còn gián tiếp nhắc nhở đến những món nợ ân tình mà tất cả chúng ta đã vay của họ từ trước mà chưa có dịp đền ơn đáp nghĩa một cách vẹn toàn.

Những mối tình “anh tiền tuyến, em hậu phương” của một thời chinh chiến xa xăm, đã được các ca sĩ hàng đầu của Trung Tâm Asia kể lại qua những bài hát thật chọn lọc, dàn dựng thật công phu và hòa âm thật đặc sắc. Hầu hết những bài hát này đã ghi khắc vào tâm tư tình cảm của hàng triệu người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Ngoài ra còn có những sáng tác mới lạ được giới thiệu trong chương trình này rất phù hợp với những biến động thời cuộc vừa xãy ra ở quê nhà. Ðó cũng là những thông điệp thầm kín mà Trung Tâm Asia và các nghệ sĩ dành cho thế hệ tiếp nối cha ông trong cuộc chiến đấu hào hùng chống cộng sản độc tài đã và đang dày xéo quê hương, đất nước Việt Nam.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Tâm Asia thực hiện một chương trình về “lính” vì trước kia đã có những băng video “Chiến Tranh Và Hòa Bình”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến” và “Người Lính” . Nhưng những chương trình đó đều được thực hiện ở trong phim trường, nghĩa là phải mất hàng tháng trời mới hoàn tất một chương trình và các ca sĩ, diễn viên có thể trình diễn tới lui nhiều lần một tiết mục mà không bị áp lực nặng nề của khán giả chung quanh chi phối. Nhưng ở chương trình Asia 58 mới nhứt này, các nghệ sĩ, nhạc sĩ, chuyên viên kỹ thuật, phụ diễn của Trung Tâm Asia đã trở thành những người lính chiến thật sự trên chiến trường. Sau hơn “ba tháng quân trường” tập luyện kỹ càng cho từng tiết mục, họ đã cùng nhau trổ tài trong hoàn cảnh hết sức căng thẳng trước hàng ngàn khán giả hiện diện trong một xuất hát kéo dài vỏn vẹn có 5 tiếng đồng hồ mà thôi. Đó là những khó khăn của một chương trình live show trực tiếp thu hình. Nên chắc chắn là Asia 58 sẽ khác hẳn những băng video về “lính” trước kia, vì được phối hợp một cách tuyệt vời về kỹ thuật sân khấu và điện ảnh rất sống động và tân kỳ.

Phần quân phục của từng binh chủng trong quân lực VNCH kỳ này cũng được thực hiện thật kỹ lưỡng với những huân chương, phù hiệu rất chính xác. Đó là nhờ sự hỗ trợ và cố vấn nhiệt tình của các tổ chức cựu quân nhân vùng Nam California dành cho Trung Tâm Asia. Tất cả các nam ca sĩ đều mặc quân phục của quân lực VNCH, ngay cả MC Việt Dzũng cũng mặc một bộ chiến y rằn ri của Biệt Động Quân với tấm thẻ bài trên cổ từ đầu tới cuối chương trình. Các nữ ca sĩ thì dĩ nhiên có nhiều kiểu áo quần màu sắc khác nhau, thời trang thay đổi, kín đáo hay không cũng tùy theo từng tiết mục trình diễn. Cô MC Thùy Dương cũng thay đổi nhiều kiểu y phục khác nhau và khả năng ứng đối, giới thiệu chương trình của cô đã tiến bộ rất rõ trong kỳ đại nhạc hội này. Bên cạnh MC kỳ cựu Nam Lộc còn có sự xuất hiện của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam trong màu áo của binh chủng Nhãy Dù và nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh trong chiếc áo dài tha thướt càng làm tăng lên vẻ trang trọng ở những phần vinh danh cho các chiến sĩ đã hy sinh cho tổ quốc thân yêu. Có lúc khán giả đã tự động đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan hô sau những lời phát biểu hoặc một ca khúc nào đó trong chương trình. Sau đó thì không khí im lìm trở lại để mọi người cùng lắng nghe từng giai điệu và những âm thanh của một màn trình diễn khác.

Những tiết mục gây thật nhiều ấn tượng:

Trên sân khấu của Asia hôm nay, khán giả đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy sừng sững trước mắt mình là khung cảnh rừng núi âm u của miền quê hương yêu dấu với một màu xanh thẫm ngút ngàn trải rộng thật sâu. Như một vùng “rừng lá thấp” nào đó ngày xưa, đã khiến cho khán giả hồi tưởng lại những gian khổ, nhọc nhằn, vất vả, hiểm nguy của đời lính nơi chiến trường ngày đêm kề cận với tử thần. Ở một góc sân khấu là một vọng gác nằm trơ vơ hiu quạnh của một tiền đồn đèo heo hút gió nào đó. Những ánh đèn màu thay đổi liên tục suốt chương trình, những âm thanh rền vang của súng đạn sa trường với khói lửa đạn bom như đưa mọi người trở về quá khứ của thời binh đao, trận mạc trên đất nước Việt Nam của thời điểm bốn mươi năm về trước. Những hình ảnh này cũng đã gây thật nhiều ấn tượng cho thế hệ cháu con đã được sinh ra và trưởng thành nơi hải ngoại, chỉ biết một cách rất mơ hồ về thời chinh chiến Việt Nam qua phim ảnh thực hiện sau này và những lời kể chuyện của thân nhân trong gia đình.

Khai mạc chương trình là một liên khúc với những tiếng hát được nhiều người ưa thích qua những lời ca đã khắc sâu vào tâm trí của chúng ta. Ánh đèn sân khấu bừng lên với sự xuất hiện của Băng Tâm trong chiếc áo ngắn theo kiểu áo bà ba cải tiến được cắt may thật khéo, trong tay cầm lá thư và bắt đầu cất lên những lời hát “Gửi Về Anh”. Sau đó là ca sĩ Y Phụng cũng mặc một kiểu áo ngắn xinh đẹp tiến ra tiếp lời với Băng Tâm ở đoạn sau của bài hát. Cả hai ca sĩ này đã trình diễn rất nhịp nhàng để mở đầu cho một kết hợp khá lạ lùng với Lâm Nhật Tiến và Đặng Thế Luân qua bài hát quen thuộc nhưng tràn đầy ý nghĩa là “Nó và Tôi”. Những người yêu bé nhỏ ở hậu phương lại có cùng một câu hỏi “Giờ Này Anh Ở Đâu?” với Như Quỳnh, Ngọc Huyền và Nguyễn Hồng Nhung. Cuối cùng là Thiên Kim và các nghệ sĩ nêu trên đã kết thúc tiết mục mở màn bằng bài hát “Có Những Người Anh” của Võ Đức Hảo để vinh danh tất cả các chiến sĩ thuộc QLVNCH. Vô cùng cảm động vì những lời hát “Cám Ơn Anh” này và thật bất ngờ ngạc nhiên khi thấy lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ to lớn từ trên cao hạ xuống để kết thúc cho liên khúc mở màn, nên tất cả khán giả đã đồng loạt tự động đứng lên vỗ tay tán thưởng vang dội ở hí trường lộng lẫy này.

Sau đó là phần trình diễn liên tục những tình khúc thời chinh chiến với nhiều bài hát quen thuộc đã được rất nhiều người yêu mến và gởi lời yêu cầu Trung Tâm Asia thực hiện trong thời gian qua. Có thể nói những tác giả tiêu biểu nhứt của loại nhạc tình cảm “hậu phương, tiền tuyến” mang đầy chất lãng mạn, chất ngất thương yêu, và mơ về một quê hương đất nước thanh bình, ấm no hạnh phúc là nhóm Lê Minh Bằng, nhạc sĩ Trúc Phương và ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Đó là những bài hát đã được các giọng ca trẻ trung của những thế hệ sau này cất lên như Y Phụng với “Viết Từ KBC”, Đan Nguyên với “Kẻ Ở Miền Xa”, Diệp Thanh Thanh với “Tàu Đêm Năm Cũ”, Ngọc Huyền với “Thương Vùng Hỏa Tuyến”, Băng Tâm với “Giấc Ngủ Cô Đơn”, Nguyên Khang và Ngọc Hạ với “Chân Trời Tím”. Đây là lần thứ ba ca sĩ trẻ Đan Nguyên xuất hiện ở sân khấu Asia và cũng là lần thứ ba chàng thanh niên này hát một bài hát khác của cùng một tác giả Trúc Phương (trước đó là “Thói Đời” và “24 Giờ Phép”) với những lời ca như sau:

“Tôi ở miền xa …trời quen đất lạ
Nhiều Đông lắm Hạ ..nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà …
Ðời không dám tới …
Đành viết cho tôi…nhạc tình sao lắm lời..

Đơn vị thường khi ... nằm trên đất giặc
Thèm trong hãi hùng ...tiếng hát môi em
Tiếng hát ngọt mềm ...người nâng lính khổ
Viết bởi câu ca ..vì tiền hay thiết tha..
"
(Kẻ Ở Miền Xa – Trúc Phương)

Những bài hát của các tác giả khác cũng đã được chọn lựa rất thích hợp cho từng tiếng hát và gây nhiều ngạc nhiên thích thú cho khán giả như “Tình Lính” với tiếng hát Thùy Hương đơn ca và “Lính Mà Em” với bộ ba Evan, Spencer, James. “Tình Ca Người Đi Biển” với Đoàn Phi và Ánh Minh song ca. Đây là những bài hát kích động vui nhộn được giao phó cho các ca sĩ trẻ với những bước nhảy nhịp nhàng bên cạnh các vũ công mặc những kiểu quần áo thời trang thật hấp dẫn. Riêng bộ ba Trish, Cardin và Doanh Doanh thì nhún nhẩy với bài hát tiếng Anh “Tell Me Why” theo như sở trường của họ và cũng để làm thay đổi không khí khá trầm buồn của những bài tình ca thời chiến.

Có lẽ phần trình diễn của các ca sĩ đã từng giúp vui cho các chiến sĩ ở tiền đồn cách đây gần 40 năm là những tiết mục khiến cho các bậc cha ông của chúng ta cảm động nhiều nhứt. Đó là Thanh Thúy với “Bóng Nhỏ Đường Chiều”, Phương Dung và Trung Chỉnh với “Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em”, Ngọc Minh và Thanh Phong với “Anh Về Với Em”, Tam Phương với “Qua Cơn Mê” và “Cho Tôi Được Một Lần”, Thanh Lan và Nhật Trường (ghép tiếng) với “Người Chết Trở Về”. Những giọng ca đó đã từng gắn liền với những bài hát lẫy lừng của một thời chinh chiến xa xưa. Giờ đây họ diễn tả lại một lần nữa trên sân khấu Asia qua phần hòa âm mới lạ, điêu luyện của dàn nhạc Asia, của kỹ thuật âm thanh, ánh sáng tân kỳ đã khiến cho khán giả bồi hồi xúc động và đáp lại bằng những tràng vỗ tay tưởng chừng không dứt. Thêm một lần nữa, tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy cất lên nghe rất não nùng:

“Ai biết ai vì đời cùng ngược xuôi chung lối mòn
Ngày anh hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tròn
Đêm lạnh còn chăn đơn gối lẻ
Chưa buồn khi canh vắng khép đôi mi

Bao thương nhớ từ độ anh vui bước quân hành
Nửa năm anh viết lá thư xanh bảo rằng
”Sẽ về phố phường …”
Mừng rơi nước mắt ướt mi người tôi thương"
(Bóng Nhỏ Ðường Chiều – Trúc Phương)

Một thế hệ ca sĩ khác thành danh ở hải ngoại sau này đã trình diễn những ca khúc của thời chinh chiến ngày xưa theo chất giọng riêng biệt của họ cũng làm cho khán giả thả hồn mình vào từng lời ca tiếng hát như Vũ Khanh với “Phút Giao Mùa”, Don Hồ với “Nhớ Thành Đô”, Tuấn Vũ và Mỹ Huyền với “Kể Chuyện Trong Đêm”, Thiên Kim với “Những Người Không Chết”, Lâm Thúy Vân với “Tìm Anh”, Y Phương với “Các Anh Đi”, Tường Nguyên vàTường Khuê với “Ngày Sau Sẽ Ra Sao?”. Nguyễn Hồng Nhung đã khiến nhiều người ngạc nhiên khi đơn ca bài hát “Người Tình Không Chân Dung” là một bài thuộc loại “nặng ký”, khó ai có thể ca diễn được cho hay như những tên tuổi vang bóng trước kia. Lại như Quốc Khanh với phần trình diễn “Một Chuyến Bay Đêm” cũng là một bài hát rất quen thuộc từ bốn chục năm nay, nhưng được Quốc Khanh diễn tả lại theo phong cách mới của riêng anh. Hy vọng những khán giả khó tính sẽ ngạc nhiên và thích thú thưởng thức những “bài hát cũ, giọng ca mới” này.

Chương trình Asia 58 này cũng đã giới thiệu hai tiếng hát mới là Bích Vân và Hồ Hoàng Yến. Cả hai ca sĩ này đều được giao phó cho hai bài hát rất nổi tiếng của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương là “Anh Đi Chiến Dịch” và “Đêm Cuối Cùng”. Cũng như các ca sĩ trẻ trung khác được sinh ra và lớn lên sau khi chiến tranh ở Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt, họ phải đặt hết tâm tư tình cảm vào nội dung bài hát và tìm hiểu thật cặn kẻ từng lời ca thì mới diễn tả hết những nét hay đẹp, đầy tình cảm của những bài hát này. Chắc chắn khi ra DVD, có nhiều nhận xét rất thú vị của khán giả khắp nơi sẽ dành cho những tiếng hát trẻ được sinh ra thời hậu chiến hay ở hải ngoại sau này khi họ trình diễn những bài hát của các bậc tiền bối ngày xưa.

Vì có quá nhiều bài hát chọn lọc cho một chủ đề (36 bài hát) và số lượng ca sĩ hùng hậu lên đến 45 người, nên có rất nhiều tiết mục hoặc hoạt cảnh sân khấu phải ghép hai ca sĩ trình diễn liên tiếp với nhau, mỗi người hát một bài. Nhưng việc ghép hai ca sĩ cũng khá hòa hợp về sắc vóc, tuổi tác và nhạc điệu nên việc này không làm cho khán giả khó chịu hoặc bực mình. Trong đó có những ca sĩ hát chung với nhau một tiết mục hoặc song ca rất ăn khớp với nhau được sắp xếp rất hợp tình hợp lý như Băng Tâm và Đặng Thế Luân, Nguyên Khang và Ngọc Hạ, Như Quỳnh và Lâm Nhật Tiến, Phương Dung và Trung Chỉnh, Ngọc Minh và Thanh Phong, Mỹ Huyền và Tuấn Vũ, Asia 3 và Thùy Hương, Ánh Minh và Đoàn Phi, Phương Thảo và Ngọc Lễ, Y Phụng và Đan Nguyên…v..v..

Trong không khí đầy tình người, thật thiết tha và cảm động với những bài hát quen thuộc có vui, có buồn ngày xưa của buổi đại nhạc hội, khán giả lại được thưởng thức một màn trình diễn thời trang rất bất ngờ với chủ đề “Màu Áo Hoa Rừng” . Đó là những chiếc áo dài được nhà vẽ kiểu thiết kế thời trang Thái Nguyễn dành đặc biệt cho chương trình Asia 58 này. Những cô người mẫu thướt tha dịu dàng trong những chiếc áo dài cải tiến đủ kiểu, màu sắc mới lạ với những bông hoa của núi rừng Việt Nam là Ánh Minh, Băng Tâm, Trish Thùy Trang, Thùy Hương, Diệp Thanh Thanh, Thiên Kim, Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Y Phụng, Y Phương. Mười cô người mẫu, mỗi người mỗi vẻ, cùng phụ họa cho tiếng hát của ca sĩ trẻ Lê Nguyên qua liên khúc “Thương Anh” và “Tôi Nhớ Tên Anh”. Thật ngạc nhiên khi một mình ca sĩ Lê Nguyên lại được hát tới hai bài hát và anh cũng là một chiến sĩ thật may mắn đang tung hoành giữa mười người đẹp với sắc nước hương trời. Một tiết mục giải trí nhẹ nhàng và khá đặc biệt trong một chương trình hoàn toàn về “lính”.

Tuy không có phần trình diễn cổ nhạc hay cải lương, nhưng không thể thiếu một màn kịch ngắn của gia đình nghệ sĩ Quang Minh, Hồng Ðào và hai cô con gái của họ là Vicky và bé Tí Tẹo với những đối thoại buồn vui lẫn lộn. Nhưng qua vở kịch “Quê Hương” này, khán giả đã có thể thấy rõ những đức tính cao quý của những người hiền phụ Việt Nam khi người chồng đã hy sinh nơi chiến trường từ lâu, mà họ vẫn ấp ủ hoài hình bóng thân yêu thời trẻ và ngại ngần khi tìm đến một tình yêu mới ở tuổi xế chiều.

Cũng qua chương trình này, khán giả có dịp ôn lại những bản tình ca của giai đoạn hai mươi năm chiến tranh khốc liệt nhứt trên quê hương và lại thấy rõ ràng tính nhân bản rất dân chủ ở miền Nam (hay quốc gia VNCH) qua việc các nhạc sĩ được tự do sáng tác những bài hát yêu đương rất lãng mạn, tình người. Trái ngược lại, ở miền Bắc cộng sản những bài hát thuộc loại “nhạc vàng” đều bị cấm tuyệt để dành chỗ cho những lời ca sắt máu, kêu gọi lớp người trẻ tuổi lên đường “xẻ dọc Trường Sơn” để nhuộm đỏ miền Nam theo tham vọng điên cuồng của các lãnh tụ nhập cảng về nước những chủ thuyết ngoại lai. Nhiều bài hát trong chương trình Asia 58 này đã bị cấm trình diễn trong nước từ hơn 30 năm nay.

Những “Lá Thư Từ Chiến Trường”:

Ngoài ra, chủ đề của Asia 58 đã xoáy vào một khía cạnh rất trung thực của người lính chiến VNCH ngày xưa. Ra đi từ thuở đôi mươi, xa gia đình và tất cả những người thân yêu, đối diện và kề cận với những cái chết ở chìến trường, những chiến sĩ này chỉ có thể viết ra tâm sự của họ qua những “lá thư từ chiến trường” để gởi về thân nhân, bè bạn ở quê nhà. Ngược lại, trong lúc những người lính đang cận kề cái chết nơi tuyến đầu lửa khói thì ở chốn hậu phương yên bình, có những người hiền phụ hoặc các “em gái hậu phương” đang ngồi nắn nót viết từng lá thư cho chồng hay người yêu hoặc những người anh trai và mong đợi từng lá thư gởi về từ chiến tuyến.

Đặc biệt là thời gian vừa qua Trung Tâm Asia đã nhận được hàng trăm lá thư (nguyên thủy được viết từ chiến trường VN ngày xưa) do quý khán giả khắp nơi trong cũng như ngoài nước gởi về TT Asia để đóng góp phần tài liệu sống động cho chương trình Asia 58. Có những lá thư được gìn giữ từ những ngày đầu cuộc chiến trải qua hơn 50 năm, giấy mực đã hoen ố phai màu. Có những lá thư của những thương phế binh quân lực VNCH gởi ra từ chốn quê nhà xa xăm. Có những lá thư của những chiến sĩ đã hy sinh và được gia đình cất giữ như những kỷ vật vô cùng quý giá. Có những lá thư của các ca sĩ lừng danh như Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh đã từng viết gởi cho các chiến sĩ nơi tiền đồn của hơn 40 năm về trước cũng được Trung Tâm Asia sưu tầm để dành riêng cho DVD Asia 58 này. Khán giả đã bồi hồi xúc động khi nghe MC đọc một lá thư viết ngày 20 tháng 1 năm 1963 của sĩ quan hải quân Hoàng Ðình Báu như sau:

KBC 3328 ngày 20-1-1963.
(KBC tức Khu Bưu Chính, một loại hộp thơ quân đội mang bí số zip code)

Em yêu,

Sáng nay tàu anh neo ngoài cửa biển Thuận An. Anh đang đứng trên đài chỉ huy đặt ống nhòm nhìn về rặng liễu xanh bao quanh giòng nước phá Tam Giang êm đềm chảy để cố tìm lại những kỷ niệm chúng mình quen nhau. Mới đó mà đã hai năm xa cách rồi phải không em?

Biển là người tình muôn thuở của thế gian, nên khi bước chân vào lính biển anh có cảm giác vừa lâng lâng hạnh phúc, vừa hồi hộp như lần đầu tiên nắm lấy tay em. Biển cũng mênh mông và sâu thẳm, ác độc khi nổi cơn thịnh nộ nhưng biển cũng là chứng nhân muôn đời của bao ước hẹn thủy chung và của tình yêu mà anh đã dành trọn cho em.....”

Ôi những lời thiết tha, trìu mến nhưng cũng thật là lãng mạn giữa khung cảnh trời nước mênh mang của một sĩ quan với nhiều trách nhiệm mang nặng trên vai nhưng không quên được người yêu ở quê nhà. Còn những người em gái hậu phương hay những cô ca sĩ đem tiếng hát giúp vui cho những anh chiến sĩ thì cũng có những lời chân tình làm ấm lòng anh lính chiến như sau:

“Các anh chiến sĩ của Phương Dung,

Mỗi lần đến hát ở Đài phát thanh Quân Đội, Phương vẫn có cảm tưởng rằng Phương đang hát cho các anh nghe. Từ mỗi lời nhạc Phương muốn gởi gấm đến cho những trận tuyến xa xôi, những cứ điểm trên đèo heo hút gió. Phương tưởng tượng khi các anh họp mặt hay các anh lẻ loi một mình, ngồi nghe tiếng hát từ xa vọng về, chắc cũng gợi lại cho các anh đôi kỷ niệm hay làm quên đi những phút gian nguy. Được như thế, lòng của Phương cũng thấy thanh thản yên vui.

Người con gái đêm đêm hát dưới ánh đèn sân khấu, phải chăng đã là một mối ràng buộc với người trai đi theo tiếng gọi của sông núi, vì những người trai đó đã quên thân mình cho những người con gái được sống yên ổn. (...) Phương Dung chỉ biết cầu nguyện cho sức khoẻ của các anh và mong cho đất nước sớm được yên bình.”

PHƯƠNG DUNG

Còn người chiến binh nơi quân trường đã gởi lời tâm sự về cho người yêu bé nhỏ ở hậu phương như sau:

Ngoài ra còn có những lá thư mới nhứt được gởi từ chiến trường Iraq và Afganistan, những lá thư emails của các chiến sĩ mang giòng máu Lạc Hồng 100% nhưng được sinh ra và lớn lên tại Mỹ và đang phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ cũng góp phần đóng góp vào chương trình Asia 58 bằng những cảm nghĩ vui buồn của họ.

Những phần trình chiếu tài liệu và vinh danh chiến sĩ:

Nhận xét một cách tổng quát thì các tiết mục ca nhạc kịch, chiếm khoảng 80 phần trăm chương trình, 20% những phần còn lại rất quan trọng và khiến cho buổi đại nhạc hội hôm nay thêm phần trang trọng là việc vinh danh những vị danh tướng tài ba lỗi lạc nhứt của quân lực VNCH. Đó là các vị tướng đều đã hy sinh nơi chiến trường hoặc ra người thiên cổ như tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh, Lê Văn Hưng và Ngô Quang Trưởng.

Hai vị khách mời danh dự để làm MC là nhà văn Phan Nhật Nam và nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã góp phần giới thiệu, tâm tình và nêu lên cảm nghĩ của họ (là hai thế hệ khác nhau) về công lao, sự nghiệp của những vị tướng này. Xen kẽ với những tiết mục văn nghệ vui buồn là những đoạn phim tài liệu vô cùng quý báu về các vị danh tướng lẫy lừng đã khiến cho khán giả bồi hồi xúc động khi được dịp xem lại những hình ảnh sống động của một thời chinh chiến ngày xưa.

Đặc biệt nhứt là phần vinh danh và giới thiệu một nữ Đại Úy Phi Công F-18 tên là Elizabeth Phạm hiện đang phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ. Nhiều khán giả đã nhỏ lệ vì vô cùng cảm động và hãnh diện khi chứng kiến tận mắt món quà lưu niệm và lá thư của nữ Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm từ chiến trường Falluhah, Iraq gởi về tặng Trung Tâm Asia. Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã giới thiệu như sau: “Đại Úy Phi Công Elizabeth Phạm là một thiếu nữ quả cảm và cô cũng là con gái của một cựu sĩ quan QLVNCH”. Sau đó khán giả đã được xem video clip với những hình ảnh hào hùng của người thiếu nữ này trên chiến trường Iraq.

Qua đoạn phim video clip trình chiếu, khán giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi được biết thêm rất nhiều điều thú vị về cô gái mang dòng máu Việt Nam 100% này. Đại Úy Elizabeth Phạm là một trong số các nữ phi công đầu tiên và duy nhứt của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, thuộc Không Đoàn ‘Bats 242’ Yểm Trợ và Tấn Công Dưới Mọi Thời Tiết. Đơn vị của cô gồm những Phi Công đã được chọn lọc từ các thành phần ưu tú nhứt của Quân Lực Hoa Kỳ. Cô đã gia nhập quân đội sau khi tốt nghiệp Ðại Học San Diego, được huấn luyện phi hành với thành tích xuất sắc và đã được chọn làm Nữ Phi Công đầu tiên của US Marine điều khiển phóng pháo cơ siêu thanh F-18 Hornet vào năm 2003.

Rất nhiều lần chiếc oanh tạc cơ F-18 của Elizabeth (trị giá 35 triệu dollars, bay với vận tốc 2,400 km/giờ để lao xuống ném bom ở Iraq) trở về căn cứ với hàng chục lỗ đạn xuyên thủng thân máy bay, còn 2 cánh thì nứt ra từng mãnh gần như sắp gãy lìa. Từ đó cô đã có biệt danh là “The Miracle Woman” khi an toàn “trở về từ cõi chết”.

Tuy phần giới thiệu này rất trang trọng và gây nhiều ấn tượng cho các khán giả thuộc nhiều thế hệ khác nhau và tạo được niềm hãnh diện về con cháu Bà Trưng, Bà Triệu với ý chí quật cường và lòng dũng cảm, nhưng sau đó màn đối thoại rất tiếu lâm của các MC Nam Lộc và Dương Nguyệt Ánh lại làm cho khán giả được dịp bật cười với những lý luận khá khôi hài và ngộ nghĩnh. Cô Dương Nguyệt Ánh nói: “Kính thưa quý vị, Nguyệt Ánh là người “chế bom”, còn cô Elizabeth Phạm là người “ném bom”, như vậy thì anh Nam Lộc ở đây lại là người “ôm bom” phải không quý vị?"(cười). Lời của MC Dương Nguyệt Ánh đã làm cho không khí hội trường được thêm phần sôi động với những tràng vỗ tay của khán giả trước khi chuyển qua phần trình diễn kế tiếp.

Những sáng tác mới của chương trình này:

Ở mỗi chương trình Asia, ngoài những bài hát được ưa chuộng từ hàng chục năm qua, thì lại thường có vài bài hát mới vừa sáng tác và rất phù hợp với tình hình thời sự liên quan đến đến chúng ta và được nhiều người chú ý trong những tháng gần đây. Nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác một bài hát tựa đề “Tiếc Thương” phổ nhạc từ lời thơ của thi sĩ Cao Tần tức Lê Tất Điều. Bài hát có nội dung nói về một pho tượng đã bị bắn nát do lòng thù oán của con người và kể chuyện về bức tượng “Thương Tiếc” đã bị giựt sập và đem đi mất tích khỏi khu nghĩa trang quân đội ở Biên Hòa sau ngày cộng sản chiếm được miền Nam. Có những câu hát đã làm khán giả rưng rưng nước mắt qua sự diễn tả của hai ca sĩ tài danh là Như Quỳnh và Lâm Nhật Tiến như “Viên đạn nào thù oán, bắn nát pho tượng này, giở từng trang lịch sử, run mười đầu ngón tay…”. Đây là lần thứ ba Như Quỳnh trở lại hát ở Trung Tâm Asia cũng với một bài hát hoàn toàn mới lạ (trước đó là “Mưa Buồn” và “Khóc Mẹ Dân Oan”). Thêm một lần nữa bài hát này đã làm nhiều người xúc động, khi xót thương cho những người chiến sĩ quân lực VNCH đã hy sinh đền nợ nước mà cũng chưa được yên thân nơi nghĩa trang quân đội ở quê nhà.

Đôi song ca Phương Thảo, Ngọc Lễ cũng trình bày một sáng tác mới là “Bài Thơ Cho Con” được nhạc sĩ Ngọc Lễ phổ nhạc từ một bài thơ của thi sĩ Duy An Đông, nhằm nói lên những tâm sự của người cha từ nơi chiến trường dành cho đứa con ở quê nhà. Có thể nói đôi uyên ương Phương Thảo, Ngọc Lễ đã có những phong cách trình diễn riêng của họ như là những ca sĩ thuộc thế hệ trưởng thành sau thời chinh chiến. Nhưng hy vọng ở các chương trình sau này, khán giả sẽ có dịp thưởng thức tài nghệ hát solo một mình của Phương Thảo với nhiều loại nhạc mang giai điệu và tiết tấu khác nhau nhằm tạo nên sự mới mẻ và cho thấy cô có thể phát triển thêm tài năng sẵn có và kinh nghiệm tích lũy từ nhiều năm qua.

Nhưng đặc sắc nhứt phải nói là một bài hát hoàn toàn mới lạ do nhạc sĩ Trúc Hồ vừa sáng tác và cũng để dành riêng cho toàn thể nghệ sĩ hợp ca trong màn kết thúc cho chương trình đại nhạc hội “Lá Thư Từ Chiến Trường” hôm nay. Bài hát này có tựa đề là “Đáp Lời Sông Núi”. Do đâu mà nhạc sĩ Trúc Hồ lại nãy ra ý tưởng để viết những lời ca và giai điệu hùng tráng này?

Theo những lời đối thoại của các MC Nam Lộc và Dương Nguyệt Ánh trên sân khấu Asia, khán giả đã được biết là sau những lần nghe tin các cuộc biểu tình rầm rộ từ trong nước cũng như ở hải ngoại của đồng bào chúng ta nhằm phản đối việc Trung Cộng ngang nhiên chiếm đóng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với việc nhà cầm quyền cộng sản VN khiếp nhược trước việc này, cộng với những sự kiện lịch sử hào hùng của hải quân VNCH trong cuộc chiến chống Trung Cộng xâm lăng hải đảo Hoàng Sa hồi năm 1974 đã khiến cho nhạc sĩ Trúc Hồ vô cùng xúc động mà sáng tác nên bài hát “Đáp Lời Sông Núi”. Nội dung của bài hát nhằm kêu gọi mọi người đứng lên bảo vệ giang sơn và cùng nhau giành lại từng tấc đất, từng bờ biển, cây cối, phố phường do cha ông xây dựng vun bồi từ xưa để khỏi rơi vào tay giặc ngoại xâm phương Bắc.

Trước khi các ca sĩ hợp ca bài hát này, một đoạn phim video clip đã được trình chiếu để khán giả có dịp nhìn lại trận hải chiến đầu tiên và duy nhứt mà hải quân VNCH đã chống lại quân xâm lược Trung Cộng vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang thuộc về chủ quyền của quốc gia VNCH. Đoạn phim này cũng nhằm vinh danh cố Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà, người đã liều mình ở lại hy sinh tuẫn tiết chết theo chiến hạm Nhật Tảo HQ 10 mà ông là hạm trưởng, để các chiến sĩ hải quân dưới quyền có thể vượt vòng vây của Trung Cộng mà thoát về đất liền. Đó là sự hy sinh vô cùng cao cả của người hạm trưởng và các chiến sĩ hải quân VNCH đã vì danh dự và trách nhiệm mà bỏ mình dưới làn đạn của Trung Cộng trong lịch sử cận đại nhưng rất hào hùng này mà ít người biết được và chú ý đến.

Đại nhạc hội kết thúc với phần trình diễn thật trang nghiêm và vô cùng ấn tượng khi tất cả các nữ ca sĩ đều mặc áo dài toàn một màu trắng, cùng xếp hàng thành chữ V trước một tấm bia đá với lời ghi khắc “Tổ Quốc Ghi Ơn”, còn các nam ca sĩ thì đứng xếp hàng ở phía sau lưng. Khán giả đã chăm chú, lắng nghe từng lời ca của bài hợp ca rất hùng tráng và mang thật nhiều ý nghĩa này do tất cả các ca sĩ của Trung Tâm Asia cùng nhau cất tiếng hát cho tổ quốc, cho quê hương, cho hồn thiêng sông núi và cho tất cả những người chúng ta cùng chung một nòi giống Tiên Rồng.

ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hưng Đạo Vương, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm, chưa một lần khuất phục ngoại xâm.

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Quyết bảo vệ giang san, từng tấc đất, từng cây cỏ,
Từng phố phường, từng con đường, từng bờ biển quê hương.

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hai Bà Trưng, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm.

Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
VIỆT NAM, VIỆT NAM, VIỆT NAM .....

(Trúc Hồ ©2008 )

Chương trình đại nhạc hội đã bế mạc sau năm tiếng đồng hồ, nhưng nhiều khán giả vẫn chưa muốn ra về, nhiều người vẫn muốn tâm sự với những bạn bè, người thân ở chung quanh vì những cảm xúc, hình ảnh ngập tràn trong tâm trí chưa thể xóa nhòa. Có lẽ họ phải đợi khi DVD Asia 58 phát hành để có dịp xem lại nhiều lần các tiết mục trình diễn và biết đâu có thể thấy lại chính mình trong đó ở hàng ghế khán giả đang sụt sùi nước mắt hay hân hoan vỗ tay tán thưởng một tiết mục nào đó của chương trình Asia 58.

31.03.2008

*Nhận Xét Về DVD Asia 59 "Bốn Mùa 2 : Một Thời Để Nhớ"



Nhận Xét Về DVD Asia số 59 “Bốn Mùa # 2 : Một Thời Để Nhớ”

Nhận xét một cách tổng quát thì đây là một chương trình đại nhạc hội ca vũ nhạc kịch hoàn toàn có tính cách giải trí đặc sắc với nhiều hình ảnh, màu sắc rực rỡ, tươi đẹp biến chuyển theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trên sân khấu với những trang phục lộng lẫy của các nghệ sĩ, vũ công và những người mẫu làm phụ diễn. Điều này chứng tỏ là Trung Tâm Asia đã thực hiện một đại nhạc hội rất tốn kém về mọi mặt để đáp ứng lại những yêu cầu khắp nơi sau sự thành công của Asia 53 “Bốn Mùa : Màu Sắc Tình Yêu” lần trước (đã được khán thính giả bầu chọn là DVD xuất sắc nhứt của năm 2007).

Về phần nội dung của chương trình Asia 59 “Một Thời Để Nhớ” thì lại càng phong phú và đa dạng hơn với phần thảo luận của các MC về nhiều lãnh vực trong cuộc sống trước đây ở quê nhà như âm nhạc, tình yêu, chiến tranh, chia ly …và nhìn lại phong trào nhạc trẻ do sự du nhập ồ ạt của văn hóa Âu Mỹ, bộ môn kịch nghệ ngày xưa ở trong nước và bây giờ ở hải ngoại (với khách mời danh dự là nữ kịch sĩ Túy Hồng của ban kịch Sống). Bên cạnh đó là việc vinh danh những nhạc sĩ tài hoa đã cống hiến nhiều tác phẩm “để đời” cho kho tàng âm nhạc Việt Nam (được chọn lọc dành riêng cho chương trình này) như các nhạc sĩ Đan Thọ, Khánh Băng, Trịnh Hưng, Anh Bằng, Lam Phương, Lê Uyên Phương… Ngoài thành phần ca sĩ nồng cốt của Trung Tâm Asia mà nổi bật là những khuôn mặt trẻ trung, vui tươi và những giọng hát hàng đầu của nền ca nhạc hải ngoại, khán giả đặc biệt chú ý đến sự trở lại lần này của hai ca sĩ Philip Huy và Diễm Liên sau một thời gian dài vắng mặt trên sân khấu Asia. Hai ca sĩ khác cũng rất được nhiều khán giả ưa thích và yêu cầu trở lại là Lê Uyên (trong liên khúc Lê Uyên Phương) và Paolo (trong liên khúc nhạc trẻ với Thanh Lan). Đó là những tiết mục được khán giả vỗ tay tán thưởng nhiều nhất.

Phần MC kỳ này thì ngoài những MC chính là Nam Lộc, Việt Dzũng, Thùy Dương còn có sự xuất hiện đặc biệt của xướng ngôn viên từ đài truyền hình SBTN là cô Bảo Châu. Nhiều người vẫn còn nhớ là trước đây cô Bảo Châu đã có làm MC cho một chương trình video của Asia với giọng nói rất trong trẻo, ngọt ngào, vui vẻ và một khuôn mặt xinh tươi, khả ái. Bất ngờ và đặc biệt khi thấy Bảo Châu ở đây là vì trong poster quảng cáo không có ghi tên của cô. Bên cạnh MC duyên dáng Thùy Dương, MC trẻ trung Bảo Châu đã tạo thêm phần không khí sôi động ở những màn phỏng vấn ca sĩ trên sân khấu và đối thoại trực tiếp với khán giả tham gia đại nhạc hội đang ngồi bên dưới.

Ngoài ra, bốn MC này của chương trình cũng đã đại diện cho 4 mùa trong năm, mỗi người mỗi vẻ tùy theo cá tính và vóc dáng mà tiêu biểu cho từng mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Những màn đối thoại giữa các MC với nhau thật đặc sắc với những mẫu chuyện dí dõm tự nhiên, không gượng ép nên đã tạo nhiều bất ngờ cho khán giả được thưởng thức những giây phút thật vui nhộn. Những màn phỏng vấn dành cho các nghệ sĩ cũng khá nhiều nhưng không đi quá xa khỏi chủ đề khi họ đã cùng nói lên tâm sự riêng tư với khán giả về “một thời đáng nhớ” của họ trên vạn nẽo đường đời.

Những Tiết Mục Đặc Sắc:

Đáng chú ý nhứt ở các chương trình đại nhạc hội luôn luôn là phần mở màn. Khán giả đã ngạc nhiên với một sân khấu vô cùng huy hoàng, tráng lệ của khung cảnh thiên nhiên toàn một màu xanh thẫm của rừng thông Đà Lạt hay cao nguyên mưa rừng gió núi nào đó của quê hương xinh đẹp như sừng sững hiện về trước mắt. Những ánh đèn màu chói chang đã tạo nên ánh sáng rực rỡ như chiếu rọi từ bầu trời để soi sáng nhân gian. Lâm Thúy Vân đã đứng cô đơn giữa những cơn mưa nhè nhẹ mà cất lên tiếng hát:

“Cơn mưa phùn bay qua thành phố nhỏ
Hàng cây dật dờ rụng hoa tàn úa
Buồn chìm vào mắt đen
Người con gái hát một mình
Bài hát buồn như cuộc tình ….”


Đây là một trong những bài hát đầu tay của nhạc sĩ Đức Huy viết vào năm 1969 rất được yêu thích. Sau đó là những ca sĩ Philip Huy, Lâm Nhật Tiến rồi Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Quốc Khanh, Ánh Minh và Đoàn Phi lần lượt hát tiếp theo liên khúc với “Mùa Thu Trong Mưa” của Trường Sa và “Tiếng Mưa Đêm” của Đức Huy. Khán giả đã say mê thưởng thức 9 tiếng hát ở phần mở màn này cùng với 10 vũ công phụ diễn ở phía sau. Các vũ công đã di chuyển với những giải lụa màu trắng như những đám mây bay ngang bầu trời và sau đó là những giọt mưa nhiều màu từ phía trên rơi xuống. Tất cả những hình ảnh, âm thanh và ánh sáng này đã gợi nhớ lại một thời xa xưa cũ của vùng trời kỷ niệm trong tâm thức của nhiều người hiện diện hôm nay.

Khán giả cũng ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện trở lại trên sân khấu Asia của danh ca Philip Huy sau một thời gian dài vắng bóng, vì không thấy tên của anh trong poster quảng cáo. Ở phần sau của chương trình Philip Huy đã trả lời phỏng vấn của MC Thùy Dương và còn song ca với Mỹ Huyền một bài hát khá buồn. Philip Huy vẫn giữ đầy đủ phong độ ngày xưa, bên cạnh các ca sĩ bạn và những ca sĩ đàn em vừa mới hát chung với nhau lần đầu ở liên khúc mở màn này. Với một chủ đề tuy nghe có vẻ rất giản dị là “Một Thời Để Nhớ”, nhưng đi sâu vào nội dung thì lại vô cùng phức tạp vì chủ đề này bao gồm rất nhiều chi tiết phụ và việc lựa chọn những bài hát cho từng mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cùng với việc vinh danh nhiều nhạc sĩ tên tuổi, nên chúng ta sẽ thấy phần liên khúc và song ca vượt trội hơn những màn đơn ca. Nhưng có những tiết mục ghép thành liên khúc của hai bài hát nối liền với nhau rất đáng chú ý và được nhiều người tán thưởng sau những video clip tài liệu giới thiệu và vinh danh nhạc sĩ.

*Liên khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” và “Chiều Tím” sau phần vinh danh nhạc sĩ Đan Thọ:

Hai khuôn mặt mới nhứt của TT Asia là Bích Vân và Hồ Hoàng Yến (ra mắt khán giả lần đầu tiên ở Asia 58 “Lá Thư Từ Chiến Trường”) đã trở lại bằng hai bài hát rất được nhiều người yêu thích qua những giai điệu nhẹ nhàng và mượt mà của một thời yêu đương với những lời ca đầy lãng mạn qua tiếng dương cầm nhẹ nhàng trong khung cảnh sân khấu của mùa Xuân qua những tia nắng vàng chiếu trên mái tóc người ca sĩ. Bích Vân đã chinh phục khán giả với kỹ thuật điêu luyện qua bài hát này cũng như lần trước ở chương trình Asia 58. Ngoài tài ca hát, Bích Vân còn sử dụng thành thạo piano và sáng tác nhiều ca khúc âm nhạc, nên tương lai của cô sẽ còn hứa hẹn những sự thành công rất nhiều. Ở chính giữa sân khấu là một đóa hoa hồng khổng lồ hiện ra trên màn hình và chung quanh là màu sắc rực rỡ của mùa Xuân điểm tô trên những cành cây. Bích Vân đã diễn tả mùa Xuân với những lời ca như sau:

“Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về
Mùa bình thường mùa Xuân này đã về
Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng cho bao tâm hồn…”


Mùa Xuân Đầu Tiên” là một bài hát vui tươi, nhẹ nhàng, tràn đầy hy vọng của đời sống sau những khổ nạn do chiến tranh, chia cắt, loạn lạc triền miên suốt nhiều năm dài. Đó là một mùa Xuân thật bình thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng mà nhiều người mơ ước hoài những vẫn chưa có được sau những tháng năm miệt mài, bon chen, vật lộn với cuộc sống hàng ngày. Ít ai biết đây là một bài hát của cùng một tác giả của những “Suối Mơ”, “Bến Xuân”, “Thiên Thai” và “Buồn Tàn Thu” hồi thời tiền chiến. Có thể nói đây là một nhạc phẩm duy nhất của cố nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác lại sau nhiều năm dài ngưng viết khi cộng sản nắm chính quyền ở miền Bắc và nhứt là sau vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” lúc bản thân ông bị trù dập tơi bời. Dân chúng ở miền Nam chỉ biết bài hát này vào những ngày gần Tết của năm 1976, khi các loa phóng thanh và đài truyền thanh ra rã hát nhiều lần với tiết điệu valse thật êm ái bên cạnh những bài hát tuyên truyền sắt máu vào thời đó như “Tiếng Ðàn Ta-Lư” hay “Cô Gái Vót Chông”...

Trong hồi ký “Đại Học Máu” của nhà văn kiêm nhạc sĩ Hà Thúc Sinh có kể lại một giai thoại liên quan đến bài hát này. Chuyện xảy ra trong trại cải tạo lúc gần Tết, các tù binh chuẩn bị tập hát để trình diễn văn nghệ ở hội trường giữa những người bạn tù với nhau như một đặc ân hiếm hoi sau vài tháng bị giam cầm. Trong lúc họ đang tập hát bài “Mùa Xuân Đầu Tiên” này thì một cán bộ cộng sản đã nghe được và bảo phải ngưng tập. Lý do là vì đây là một bài hát vô cùng phản động từ giai điệu “van-xờ” của bọn đế quốc tư bản cho đến “ca từ” của bài hát. Trong lúc cả nước đang “hồ hởi phấn khởi” vì “Ðại Thắng Mùa Xuân” mà bài hát này lại viết là “mùa Xuân bình thường” ??? Làm sao mà “bình thường” cho được? Một bài hát đi ngược lại với chủ trương và đường lối của Đảng CSVN lúc đó. Điều này chứng tỏ những người cộng sản rất khắt khe trong việc kiểm duyệt những bài hát. Đó là chưa kể đến việc tất cả những tác giả tác phẩm âm nhạc nào được sáng tác ở miền Nam trước năm 1975 đều bị cấm lưu hành và trình diễn vào thời điểm đó.

Còn nhớ là ở những buổi văn nghệ mừng Xuân 1976 ở các khuôn viên trường đại học khắp nơi hoặc các lần hội diễn văn nghệ toàn thành, dân chúng đều nghe được bài hát “Mùa Xuân Đầu Tiên” này do các sinh viên, giáo chức cùng hợp ca hay có lúc đơn ca. Vì đó là một trong số ít những bài hát còn có thể “thưởng thức” được trong hoàn cảnh tuyệt vọng, chán chường bên cạnh những người chủ mới ở miền Nam. Nhưng sau đó là thời bao cấp, rồi kinh tế thị trường xãy ra ở Việt Nam, nên bài hát này đi dần vào quên lãng của bà con trong nước và ở hải ngoại thì ít ai còn nhớ đến bài hát này. Hôm nay, Bích Vân lại làm sống lại kỷ niệm của biết bao nhiêu người đã từ lâu hằng ước mơ được hưởng một mùa Xuân bình dị trên quê hương với tiếng gà gáy trưa bên kia sông, với khói bay là đà trên sông vắng ở miền quê thanh bình. Ðó cũng là lòng mong ước của cố nhạc sĩ Văn Cao mang đầy tính nhân bản, nhưng ngày ấy chắc vẫn còn xa xăm lắm. Ông đã mơ rằng:

“Từ đây người biết quê người,
Từ đây người biết thương người,
Từ đây người biết yêu người ..”


Nhưng ông có ngờ đâu đã hơn 30 năm qua, “người” vẫn đối xử với “người” cùng một nòi giống tổ tiên như thế nào sau cái “mùa Xuân đầu tiên” năm ấy?

Sân khấu đang từ mùa Xuân bổng chuyển sang màu tím của một buổi chiều Thu với tiếng hát và vóc dáng, khuôn mặt thật xinh tươi quyến rũ của ca sĩ Hồ Hoàng Yến trong trang phục màu tím xậm thật đẹp với những lời hát thật mượt mà mang đậm nét u buồn cho tâm sự của lứa đôi đang nhớ nhau vì ngăn cách:

“Chiều tím chiều nhớ thương ai, người em tóc dài?
Sầu trên phím đàn, tình vương không gian,
Mây bay quan san, có hay?

Ai nhớ, mắt xanh năm nào
Chiều thu soi bóng, nắng chưa phai màu
Kề hai mái đầu, nhìn mây tím… nhớ nhau …”


Nhạc phẩm “Chiều Tím” là sáng tác nổi tiếng nhứt của nhạc sĩ Đan Thọ, sinh quán tại Nam Định, năm nay đã 84 tuổi và đang định cư ở Mỹ với sức khoẻ đồi dào vì vẫn còn lái xe rong chơi đây đó. Bài “Chiều Tím” được ông soạn nhạc vào năm 1968 (phổ thơ Đinh Hùng), sau đó là Xa Quê Hương, Mimosa Thôi Nở, Dương Cầm ... Trước năm 1975 ông là một nhạc sĩ chơi vĩ cầm và saxo rất có hạng trong sinh hoạt vũ trường và phòng trà ca nhạc của Sài Gòn. Ông cũng cộng tác với vài ban nhạc chuyên trình diễn trên đài phát thanh, truyền hình và các buổi đại nhạc hội hoặc các hãng sản xuất băng đĩa trong nhiều chục năm dài. Có thể nói cuộc đời của ông gắn liền với những hoạt động âm nhạc cùng thời kỳ với những nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Xuân Tiên, Nhật Bằng khi ông bắt đầu học nhạc từ năm 17 tuổi…Sau năm 1975 ông vẫn tiếp tục cộng tác với vài ban nhạc và thoại kịch để đi lưu diễn khắp nơi trong nước. Sau khi qua Mỹ và định cư ở tiểu bang New Orleans từ năm 1995 ông đã chính thức về hưu để dành trọn thời giờ bên người hiền phụ đã kết hôn với ông vào năm 1945 ở Hà Nội khi vừa tròn 16 tuổi. Hơn 60 năm qua, họ vẫn sống hạnh phúc bên nhau và nhạc sĩ Đan Thọ cũng dành thời giờ để chăm sóc cây cảnh và nuôi chim giải khuây. Hiện nay nhạc sĩ Đan Thọ đang cư ngụ ở Houston, Texas. Nhạc phẩm duy nhứt mà ông sáng tác ở Mỹ là bài “Dương Cầm” dựa theo ý thơ của người con rễ là bác sĩ kiêm thi sĩ Mùi Quý Bồng. Trong chương trình Asia 59 này, khán giả sẽ có dịp được thấy và nghe nhạc sĩ Đan Thọ tâm sự về bài hát “Chiều Tím” trên màn hình hai bên sân khấu.

Bài hát “Chiều Tím” ở chương trình này đã khiến cho Hồ Hoàng Yến có dịp phô bày được những nét trẻ trung, xinh tươi qua vóc dáng, trang phục và giọng hát của cô. Trong Asia 58, cô chỉ hát một đoạn ngắn của bài “Đêm Cuối Cùng”. Hôm nay Hồ Hoàng Yến hát được trọn bài “Chiều Tím” nên khán giả sẽ có dịp đánh giá và nhận xét thêm về chất giọng và kỹ thuật ca hát của cô qua nhiều năm kinh nghiệm. Hồ Hoàng Yến cũng là tên thật của người ca sĩ trẻ này. Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn sau khi cuộc chiến tranh đã kết thúc. Nhưng trước năm 1975, thân phụ của cô là một quân nhân trong binh chủng Không Quân của VNCH và đã qua đời trong một chuyến vượt biên, khiến cho cô bây giờ chỉ còn mẹ mà không có anh chị em gì hết. Hồ Hoàng Yến đã thích hát từ nhỏ ở trường học, sau đó có thời đi hát chuyên nghiệp ở các phòng trà, vũ trường. Năm 2001, Hồ Hoàng Yến sang định cư ở San Jose rồi dọn sang Pennsylvana và từ năm 2005 đã dọn về cư ngụ ở vùng Little Saigon và trình diễn ở nhiều chương trình văn nghệ khác nhau. Hồ Hoàng Yến đã tâm sự “ca hát là một đam mê của Yến, bỏ gì cũng được, nhưng không thể bỏ ca hát…”.

*Liên khúc Khánh Băng:

Trong chương trình này, cố nhạc sĩ Khánh Băng đã được vinh danh qua một video clip kể về cuộc đời của ông. Điểm đặc biệt của người nhạc sĩ sinh trưởng tại Vũng Tàu này là ông là người đi tiên phong trong việc sử dụng cây guitar điện trên sân khấu ở thời thập niên 1950 như là một sáng kiến rất mới lạ vào thời đó.

Kế đến là thập niên 1960, khi ảnh hưởng của phong trào nhạc trẻ từ Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam thì Khánh Băng thành lập ban kích động nhạc mang tên “Khánh Băng-Phùng Trọng” với Duy Khiêm, Phùng Trọng và Nguyễn Ánh (sau này đổi tên thành Nguyễn Ánh 9). Khánh Băng đã chơi thành thạo cây đàn guitar điện với những âm thanh thật lạ lùng quyến rũ bên cạnh tay trống Phùng Trọng với những sáng tác đầu tiên mang giai điệu Twist của nền âm nhạc Việt Nam như “Sầu Đông”, “Nếu Nhớ Đêm Nào” và “Tiếng Mưa Rơi”… Nhưng bên cạnh những bài hát kích động trên sân khấu như vậy, ít ai có thể ngờ được là nhạc sĩ Khánh Băng là một người nghệ sĩ có cuộc sống nội tâm giàu tình cảm vô cùng lãng mạn và yêu quê hương tha thiết. Có thể nói Khánh Băng cũng là người nhạc sĩ của tình ca quê hương với những sáng tác như “Đôi Ngã Chia Ly”, “Bốn Mùa Thương Nhớ”, “Khi Đã Yêu”, “Mối Duyên Quê”, “Mộng Chiều”, “Nếu Một Ngày”, “Thà Đừng Yêu” … Dĩ nhiên, khi sống vào thời tao loạn, Khánh Băng cũng có những đóng góp vào các tình khúc thời chinh chiến như “Giờ Này Anh Ở Đâu”, “Vườn Tao Ngộ”, “Người Lính Chung Tình”… Ở lại quê nhà sau năm 1975 cho đến khi bị bịnh mù loà vào năm 1996, Khánh Băng đã sáng tác thêm gần 100 ca khúc tình tự quê hương mang âm hưởng dân ca miền Nam như bản “Trên Nhịp Cầu Tre” do Duy Khánh phổ biến sau này ở hải ngoại. Nhạc sĩ Khánh Băng đột ngột qua đời vào đúng mùng một Tết Ất Dậu tức ngày 9 tháng 2 năm 2005 tại tư gia ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn khi vừa 67 tuổi.

Trong chương trình Asia 59 này, liên khúc “Trăng Thề, Nếu Một Ngày và Tiếng Mưa Rơi” là ba bài hát rất đặc sắc của ông qua sự kết hợp thật linh động và điêu luyện của hai danh ca Don Hồ, Y Phương cộng với sự trẻ trung của Lê Nguyên chắc chắn sẽ làm nhiều khán thính giả hài lòng. Trăng Thề cũng là một bài hát đã được nhiều fans gởi thơ về yêu cầu thực hiện. Trước đây Asia cũng đã cho trình diễn rất nhiều bài hát của nhạc sĩ Khánh Băng như “Sầu Đông”, “Giờ Này Anh Ở Đâu” và đều được ưa thích.

Ở liên khúc Khánh Băng này là một sự phối hợp thật tuyệt vời giữa những giọng ca cao vút của Y Phương và Lê Nguyên cùng với giọng hát trầm ấm, tràn đầy tình cảm của danh ca Don Hồ khiến cho chúng ta có thể nghe đi, nghe lại nhiều lần mà tưởng chừng vẫn còn chưa đủ. Tiết mục này là một sự phối hợp lạ kỳ hay là một thí nghiệm mới mẻ giữa ba tiếng hát này với nhau. Chắc chắn là sẽ có kẻ khen người chê, nhưng đây là một kinh nghiệm trình diễn cho Lê Nguyên với các đàn anh, đàn chị của mình. Với một chương trình quá nhiều những bài hát hay như vậy, khán giả yêu thích tiếng hát Y Phương vẫn mong mõi được nghe Y Phương đơn ca thêm một bài hát thật dài ở lần trình diễn tới trên sân khấu Asia. Nhiều lời yêu cầu đã chuyển về diễn đàn của Trung Tâm Asia.

*Liên Khúc Nhạc Trẻ:

Với chủ đề “Một Thời Để Nhớ” thì không thể nào bỏ sót phong trào nhạc trẻ ở Việt Nam. Trước đây cũng có nhiều fans đề nghị Trung Tâm Asia nên làm một DVD riêng về “phong trào nhạc trẻ”, nhưng vẫn chưa thấy Asia thực hiện được, thì hôm nay ở đoạn phim tài liệu cho trình chiếu về phong trào nhạc trẻ này cũng có thể gợi nhớ cho nhiều người về một hiện tượng độc đáo nhứt của nền ca nhạc Việt Nam. Nói là “phong trào” và “hiện tượng” là vì giai đoạn trào lưu "nhạc trẻ xâm nhập Việt Nam chỉ hơn mười năm thôi, nhưng đã đào tạo ra nhiều nhạc sĩ, ca sĩ thành danh cho đến bây giờ. Tuy hiện nay ở hải ngoại, những sáng tác của Trúc Hồ, Sỹ Đan, Cardin, Trish cũng được gọi là “nhạc trẻ” nhưng lại khác xa những dòng nhạc trẻ ngày xưa ở quê nhà.

Vào khoảng đầu năm 1960, giới thanh niên trí thức, nhứt là các học sinh đang theo học chương trình Pháp của những “trường Tây” ở thủ đô Sài Gòn đã làm quen với những dĩa nhạc và sách báo du nhập từ Pháp. Nhiều thanh niên nam nữ đã đam mê âm nhạc Tây Phương và thành lập những ban nhạc bỏ túi. Một trong những ban nhạc trẻ đầu tiên ở Việt Nam được thành lập vào năm 1961 là Black Caps với Thanh Tuấn (tức Paolo sau này) rất nổi tiếng. Ấn tượng khó quên về ca sĩ này là bộ đồ da màu đen bó sát người, đôi găng tay cũng cùng màu đen xậm và trên cổ đeo lủng lẳng một sợi dây chuyền khá dài. Tên thật của anh là Đào Thiệu Doãn, sau này lấy tên Mỹ là Paolo hay còn gọi là Paolo Tuấn.

Sau đó là khởi đầu cho những ca sĩ Elvis Phương, Công Thành, Jo Marcel, Helena, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie bắt đầu hát nhạc Pháp và Mỹ khi hiện tượng Elvis Presley và ban tứ quái Beattes bắt đầu được biết đến ở miền Nam. Từ những buổi trình diễn nhạc theo kiểu “Hippy À Go-Go” ở các phòng trà ca nhạc do các “ông bầu” Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel … phụ trách dành riêng cho khán giả Việt Nam ở Sài Gòn đã tạo nên cơ hội cho nhiều ban nhạc trẻ được thành lập và phục vụ cho các clubs của quân đội Mỹ khắp nơi, để sau đó hình thành những chương trình đại nhạc hội vĩ đại ở ngoài trời.

Nhiều người vẫn còn nhớ Đại Hội Nhạc Trẻ ngoài trời đầu tiên ở Việt Nam quy tụ gần 20,000 người ở sân vận động Hoa Lư, Sài Gòn vào năm 1971 với sự tham gia của nhiều ban nhạc ngoại quốc đến từ Âu, Mỹ, Úc, Á và tất cả những ban nhạc trẻ VN thời đó với tài tổ chức của nhà báo Trường Kỳ và nhạc sĩ Nam Lộc. Sau đó là những buổi đại nhạc hội gây quỹ cho “cây mùa Xuân chiến sĩ và cô nhi, quả phụ” được tổ chức hàng năm cho đến ngày cộng sản cưỡng chiếm miền Nam.

Ở chương trình Asia 59, khán giả đã vô cùng ngạc nhiên và say mê thích thú theo dõi màn trình diễn của đôi song ca đại diện cho phong trào nhạc trẻ Việt Nam là Paolo Tuấn và Thanh Lan qua những bài hát quen thuộc như “MỘT THỜI ĐỂ YÊU (Les Amoureaux Qui Passent) (lời Việt của Nam Lộc), CUỘC TÌNH TÀN (lời Việt của Phạm Duy), MÙA TÌNH YÊU (LOVE SEASON, lời Việt của Trường Kỳ) và DELILAH. Phần phụ diễn của các vũ công lại làm tăng thêm nét đặc sắc cho tiết mục này. Lâu lắm rồi, khán giả mới thấy lại danh ca nhạc trẻ “vang bóng một thời” là Paolo Tuấn. Từ khi qua Mỹ ít ai thấy anh xuất hiện trước công chúng vì bận rộn cho những thương vụ cá nhân, nhưng đặc biệt hôm nay ở Asia 59, ca sĩ kỳ cựu của phong trào nhạc trẻ Việt Nam ngày xưa lại tái xuất giang hồ trên sân khấu Asia bên cạnh “nữ hoàng nhạc Pháp” Thanh Lan.

*Liên khúc Lam Phương:

Không cần nói nhiều về giòng nhạc Lam Phương trong suốt chiều dài của nền tân nhạc Việt Nam đã được biết bao nhiêu thế hệ khán giả say mê yêu thích từ trong nước ra đến hải ngoại và từ hải ngoại trở ngược về quê cũ. Ở Asia 59 này, các MC đã nhấn mạnh đến thời kỳ nhạc sĩ Lam Phương sáng tác những bài hát đặc biệt dành riêng cho từng chủ đề của ban thoại kịch Sống do nghệ sĩ Túy Hồng làm giám đốc. Xuất hiện trên sân khấu Asia lần này, kịch sĩ Túy Hồng đã tâm sự về thời kỳ “vàng son” của ban kịch Túy Hồng và những bài hát của nhạc sĩ Lam Phương. Nhiều người vẫn còn nhớ là từ quê nhà Cà Mau, cô Túy Hồng đã lên Sài Gòn lập nghiệp bằng con đường ca hát, rồi dần dần trở thành một kịch sĩ nổi tiếng ngang hàng với những Thẩm Thúy Hằng và Kim Cương trên sân khấu lẫn trên đài phát thanh, truyền hình. Nhà văn Phạm Phong Dinh đã nhận xét như sau: “Ban kịch Sống Túy Hồng có một lợi thế mà ít ban kịch nào có được, và là ban kịch đưa các bài tình ca vào các vở diễn thành công nhứt, đó là nhờ phần lớn các bài hát tuyệt vời của người nhạc sĩ tài hoa Lam Phương, trong thời điểm đó là đức phu quân của Túy Hồng. Đầu năm 2000, để kỷ niệm 40 năm Túy Hồng cống hiến tài năng cho nền kịch nghệ, bà đã dựng lại vở “Con Gái Chị Hằng” và trình diễn trên sân khấu ở Nam California”. Cách đây vài năm, ban kịch sống Túy Hồng cũng đã trình diễn vài lần ở những chương trình video của Trung Tâm Asia.

Điển hình cho những bài hát được ban kịch Sống Túy Hồng chọn làm nhạc chủ đề cho từng vở kịch là các bài hát Duyên Kiếp, Trăm Nhớ Ngàn Thương (do Túy Hồng song ca với nhạc sĩ Diên An trong vở kịch “Tình Thiên Thu” vào năm 1970 ở Sài Gòn) và Thu Sầu được dàn dựng thành liên khúc Lam Phương trong chương trình Asia 59.

Lần đầu tiên trên sân khấu Asia, hai tiếng hát trẻ Băng Tâm và Đan Nguyên song ca bài “Duyên Kiếp” với màn diễn xuất rất tình tứ trong khung cảnh thiên nhiên và thơ mộng của mùa Thu đỏ rực một màu nắng chiều, nhưng cũng khá u buồn như câu hát “Em ơi nếu mộng không thành thì sao, non cao đất rộng biết đâu mà tìm”. (Bài hát này nổi tiếng tới mức có nhiều người đã đặt lời tếu như “Em ơi nếu mộng không thành thì sao? Mua chai thuốc chuột uống cho rồi đời”). Ở cuối bài hát họ đã dành cho nhau nột nụ hôn thật là tình tứ và nhẹ nhàng quay gót về phía hàng cây lá đỏ với những lời từ biệt sau cùng. Sau đó là phần song ca của Ngọc Huyền và Đặng Thế Luân với “Trăm Nhớ Ngàn Thương” và tam ca “Thu Sầu” với Y Phụng, Tường Nguyên và Tường Khuê. Có thể nói phần chọn lựa các ca sĩ hát chung với nhau ở từng bài hát ở liên khúc Lam Phương này rất thích hợp với từng giọng hát và vóc dáng của họ. Một tiết mục khá đặc biệt với 7 ca sĩ trẻ cùng đóng góp với nhau để vinh danh cho nhạc sĩ Lam Phương và ban kịch Sống Túy Hồng.

Nhắc về kịch thì ở các chương trình sau này, đôi uyên ương Quang Minh-Hồng Ðào vẫn tiếp tục cống hiến một vở kịch vui với những lời đối thoại rất đặc sắc phần nhiều là do họ vừa sáng tác và tập luyện với nhau. Ðặc biệt là ngoài tài năng trẻ Jonathan Phạm, khán giả còn có dịp gặp lại cô Tố Loan.Tuy bận rộn với thương nghiệp và làm người mẫu thời trang, nhưng Tố Loan đã trở lại với Asia 59 sau lần xuất hiện đầu tiên ở Asia 50 (kịch vui “Lâu Ðài Tình Ái”) và được khen ngợi rất nhiều.

*Liên khúc Trịnh Hưng:

Một nhạc sĩ được rất nhiều người yêu thích vừa từ giả chúng ta cách đây vài tháng (10-5-2008) tại Pháp là nhạc sĩ Trịnh Hưng, đã được vinh danh ở Asia 59 qua liên khúc “Lối Về Xóm Nhỏ” và “Tôi Yêu” với hai tiếng hát Phương Hoài Tâm và Phương Hồng Quế. Cuộc đời của nhạc sĩ Trịnh Hưng khá lận đận khi cộng sản chiếm miền Nam, ông đã bị tù suốt 8 năm vì sáng tác một bài hát chống đối lại với chế độ mới khi một người con trai của ông bị chết oan ức dưới bàn tay của công an cộng sản. Năm 1990 ông được gia đình bảo lãnh sang Pháp sau khi ra khỏi tù. Thời trước chiến tranh, khi từ giả miền Bắc vào Nam, ông đã từng mở lớp dạy nhạc, luyện giọng cho nhiều ca sĩ. Nghe nói ông đã đào tạo những người học trò rất nổi tiếng sau này như nhạc sĩ Trúc Phương, Đỗ Lễ và ca sĩ Thanh Thúy, Bạch Yến, Ánh Tuyết (thời trước). Từ năm 1956, ông đã nổi tiếng với những bài hát mang âm điệu dân ca kết hợp với nhạc Tây Phương rất dễ hát và dễ đi vào lòng người như những bài được giới thiệu ở Asia 59:

“Tôi yêu quê tôi, yêu lũy tre dài đẹp xinh
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bến đình
Yêu trăng buông lơi hôn má cô nàng dệt tơ
Và yêu cánh đồng vời xa, ngàn tay đang dựng mùa hoa.”


Trước đây, trong cuốn video Asia “Đêm Saigon 6” nhạc sĩ Anh Bằng đã trang trọng giới thiệu nhạc sĩ Trịnh Hưng và bài hát “Tình Thắm Duyên Quê” thì hôm nay ở Asia 59, một lần nữa Asia lại vinh danh cho nhạc sĩ tài hoa này.

*Những bài hát song ca và đơn ca:

Có rất nhiều bài hát chọn lọc ở chương trình này. Đáng chú ý nhất là “Định Mệnh” của Song Ngọc do Phillip Huy và Mỹ Huyền song ca. Sự trở lại của Phillip Huy như là một đáp ứng theo yêu cầu của nhiều khán giả ái mộ anh. Nhưng ở lần trở lại này, không biết vô tình hày cố ý mà Trung Tâm Asia đã sắp xếp cho anh hát chung với Mỹ Huyền bài hát “định mệnh” này. Tại vì trước kia, đôi nghệ sĩ này đã từng có một thời yêu thương nhau trong nhiều năm dài, tưởng chừng đi đến hôn nhân. Nhưng rốt cuộc “ định mệnh” đã khiến họ chia tay nhau mỗi người một ngã. Mỹ Huyền đã tâm sự với khán giả về những chuyện tình của cô khi được Mc phỏng vấn. Người ca sĩ này sống nhiều với kỷ niệm, vì trước kia cô đã từng phát biểu: “Dù bây giờ em có vui, em có hạnh phúc cách mấy thì em vẫn sống về kỷ niệm, em nhớ về kỷ niệm để lấy cái tâm tư, lấy cái cảm hứng mà em viết nhạc”. Giờ đây ở chương trình này họ đã diễn tả bằng những câu hát theo đúng tâm trạng của họ ngày xưa:

“Ôm ấp chi một định mệnh buồn
Ðể chua xót những gì cho nhau
Người bước đi mà nát tan lòng
Ai đứng trông theo ngập ngừng
Tình yêu mất đi còn đâu

Em đâu lỡ hẹn
Mà đời lại chia ngăn cách với chia phôi
Phải chăng anh ơi tình lỡ ước mong
Trách chi người sang sông…”

Nguyên Khang và Diễm Liên cũng là một đôi song ca được nhiều người mến chuộng nhất ở sân khấu Asia hoặc ở những lần cùng đi lưu diễn khắp nơi. Sau một thời gian không hát chung với nhau, lần này họ cũng có dịp song ca “Tuổi Xa Người” và “Bây Giờ Tháng Mấy”. Ðây có thể nói là sự chọn lựa và hòa âm hai bài hát rất thích hợp với đôi song ca này. Với trang phục thật đẹp, thật trẻ trung, cái nắm tay tình tứ và cả hai nhìn vào mắt nhau như không thể rời xa là những diễn tả thật trung thực cho bài hát và tạo cho khán giả nhớ hoài hình ảnh của họ trên sân khấu.

Nhạc sĩ Mạnh Phát tuy không được vinh danh ở chương trình này, nhưng có hai bài hát rất đắc sắc của ông đã được nhiều người yêu cầu thực hiện. Đó là “Hoa Nở Về Đêm” do Ngọc Huyền trình bày. Bài hát được các MC giải thích thêm về ý nghĩa của các loài hoa chuyên nở ban đêm như Quỳnh Hoa và Dạ Lý Hương. Tiết mục đơn ca này rất thích hợp với giọng hát của Ngọc Huyền.

Riêng bài “Sương Lạnh Chiều Đông” do Băng Tâm diễn tả là một bài hát đã được rất nhiều khán giả yêu cầu dành riêng cho tiếng hát Băng Tâm và đã được Asia đáp ứng lại ở chương trình này. Đặc biệt ở tiết mục này, Băng Tâm đã xuất hiện với hình ảnh một thiếu nữ trẻ với mái tóc hớt ngắn (lần đầu tiên thay đổi kiểu tóc) càng làm cho cô trở nên cao ráo hơn. Nhứt là chiếc áo dài phủ gót màu hoàng yến khiến cho cảnh Băng Tâm đứng hát một mình giữa khung cảnh lạnh lẽo của mùa Đông, càng tạo nên ấn tượng cô đơn u sầu nhiều hơn nữa. Hầu như ở mỗi chương trình của Asia sau này, khán giả có thể nhận thấy rất rõ ràng là Băng Tâm đã tiến bộ những bước rất nhanh, rất dài qua kỹ thuật diễn xuất, chất giọng cũng như trang phục và vóc dáng. Đó cũng là kết quả của sự luyện tập chuyên cần, học hỏi kinh nghiệm và biết lắng nghe những góp ý chân thành của khán giả dành cho cô trên bước đường phục vụ nghệ thuật. Trước đó, nữ danh ca Như Quỳnh cũng đã trả lời phỏng vấn về những mùa Đông chất chứa nhiều kỷ niệm của cô và Như Quỳnh đã trang trọng giới thiệu bài hát “Sương Lạnh Chiều Đông” do Băng Tâm trình diễn.

Nữ nhạc sĩ Diệu Hương cũng đã trở lại với sân khấu Asia như một khách mời danh dự để trả lời phỏng vấn và nói về bài hát “Phiến Ðá Sầu” của cô. Tuy có người nghĩ là bài hát này dường như sáng tác cho một người phái nam. Nhưng ở chương trình này, chắc chắn khán giả sẽ ngạc nhiên khi nghe nữ ca sĩ Lâm Thúy Vân diễn tả những lời ca với tất cả cảm xúc và tâm hồn của cô dành trọn vào bài hát với chất giọng rất đặc biệt của cô.

Những ca sĩ trẻ luôn luôn làm cho không khí sân khấu sôi động với những bài nhạc trẻ do Sỹ Đan hoà âm. Đó cũng là những nét đặc biệt của các chương trình Asia và những tiết mục đã khiến cho nhiều khán giả như sống lại và hồi tưởng lại một thời trẻ trung nào đó của mình ở vài chục năm về trước. Đáng chú ý nhất vẫn là Trish Thùy Trang, Ánh Minh, Đoàn Phi, Thùy Hương, Cardin, Spencer. Mỗi người mỗi vẻ luôn luôn tìm ra những mới lạ cho họ trong cách phục sức cũng như việc lựa chọn bài hát. Như nhiều người đã ngạc nhiên khi nghe Trish hát nhạc Pháp. Chất giọng đặc biệt của những ca sĩ trẻ như Thùy Hương, Spencer, Ánh Minh khi hát tiếng Việt và những bước nhảy của Ðoàn Phi càng làm cho khán giả thêm yêu mến những tài năng trẻ tuổi này.

Được đào tạo và thành danh từ sân khấu Asia, hai ca sĩ Doanh Doanh và Cardin đã chứng tỏ tài nghệ của họ càng ngày càng tiến triển và vẫn được nhiều khán giả yêu thích. Nhứt là tiết mục đặc biệt hôm nay của Doanh Doanh và Cardin rất sống động với trang phục trẻ trung, hợp thời trang và những bước nhảy rất điêu luyện ở liên khúc “Without You” và một sáng tác của Trúc Hồ là “Và Hôm Nay”. Riêng hai ca sĩ trẻ khcá cũng do TT Asia đào tạo là Thùy Hương và Ánh Minh cũng rất xuất sắc trong tiết mục trình diễn của mình.

Không phải chỉ những ca sĩ trẻ mới được giới trẻ yêu thích, mà đó đây khắp các diễn đàn ca nhạc những khán giả trẻ tuổi đã yêu cầu và khen ngợi rất nhiều về những tiết mục của các ca sĩ kỳ cựu ngày xưa. Đặc biệt là hai giọng hát Thanh Phong và Ngọc Minh ở chương trình này với liên khúc “Khi Em Nhìn Anh” và “Nếu Em Về Bên Anh” cho thấy họ đã diễn tả những kỷ niệm yêu đương của “một thời để nhớ” ngày nào rất say mê, tình tứ , trẻ trung và quyến rũ. Một tiếng hát kỳ cựu khác, nhưng chỉ bắt đầu hát ở hải ngoại là Vũ Khanh cũng được rất nhiều bạn trẻ ái mộ. Ở Asia 59 Vũ Khanh đã diễn tả “Phượng Hồng” trong khung cảnh một mùa Hè đỏ rực vì những hàng phượng vĩ rợp trời (mà ở miền Nam gọi là bông điệp). Bài hát này được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ từ một bài thơ của nhà thơ “thanh niên xung phong” Đỗ Trung Quân. Tuy là một sáng tác từ trong nước nhưng lại được nhiều bà con ở hải ngoại đón nhận, lắng nghe và yêu thích. Đó là vì bài hát này mang những nét lãng mạn, nhẹ nhàng êm ái của một thời “áo trắng sân trường”. Nhứt là thời còn đạp xe đi học và ăn độn với khoai, sắn, bo-bo là quãng thời gian mà nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thể nào quên. Một tiết mục rất thành công vì có những âm thanh hình ảnh thật thơ mộng và ngập tràn kỷ niệm qua tiếng hát điêu luyện của Vũ Khanh và nhiều phụ diễn qua phần hoà âm của nhạc sĩ Trúc Sinh là người “chuyên trị” những bài hát quê hương.

*Những sáng tác mới:

Chương trình nào của Asia cũng thường khiến khán giả ngạc nhiên với những sáng tác mới lạ lần đầu tiên được trình làng và do những tiếng hát độc quyền cho Trung Tâm Asia diễn tả. Lần này Như Quỳnh cũng giới thiệu một bài hát mới rất cảm động dành cho những người đã mất đi một người thân yêu nhứt của mình trên đời. Ðó là ca khúc “Thăm Mộ Mẹ” của nhạc sĩ Anh Bằng phổ theo lời thơ của Lê Duy Phương. Khung cảnh sân khấu thật trang nghiêm và cảm động khi Như Quỳnh ôm một bó hoa huệ trắng mà quỳ bên mộ người hiền mẫu rồi cất tiếng ca:

“Con quỳ bên mộ mẹ
Nghĩa trang buồn hắt hiu
Gió lạnh ru rặng liễu
Mẹ bây giờ ở đâu?”

Riêng nhạc sĩ Trúc Hồ cũng giới thiệu hai sáng tác mới nhứt viết về tình yêu là “Chỉ Là Phù Du Thôi” qua tiếng hát của Lâm Nhật Tiến và “Vầng Trăng Tình Yêu” do Thiên Kim và Quốc Khanh song ca. Ở chương trình này Quốc Khanh ngồi đệm trống và hát chung với Thiên Kim trong một trang phục rất là gợi cảm.


*Liên khúc Lê Uyên Phương:

Trước năm 1975, có nhiều đôi song ca từng trình diễn chung với nhau, nhưng có thể nói Lê Uyên Phương là hai ca sĩ được nhiều người, nhiều giới yêu thích và nhớ nhiều vì những nét đặc biệt trong phong cách trình diễn của họ. Xuất hiện lần đầu tiên ở Sài Gòn trong một phòng trà do nhạc sĩ Trường Kỳ đảm trách phần văn nghệ bên cạnh những ban nhạc trẻ chuyên hát nhạc ngoại quốc, cái tên xa lạ Lê Uyên Phương sau đó đã nổi danh khắp nơi. Đa số những tác phẩm họ trình bày đều do ca nhạc sĩ “Lê Uyên Phương” sáng tác. Tên thật của ông là Lê Minh Lập và sau đó đổi thành Lê Minh Lộc, sanh ngày 2-2-1941 tại Đà Lạt. Khi còn niên thiếu, ông đã học vĩ cầm với nhạc sĩ Francois Regor và tự học sáng tác qua sách vở. Ca khúc đầu tay “Buồn Đến Bao Giờ” được ông sáng tác vào năm 1960. Trong thời gian đi dạy học, ông đã lập gia đình với “cô láng giềng” Lâm Phúc Anh, người gốc Hoa từ Sài Gòn lên Đà Lạt trọ học. Chính nhạc sĩ LUP đã giải thích về biệt hiệu này như sau trong một cuộc phỏng vấn với Trường Kỳ: Tên Uyên là tên một cô bạn gái thời trẻ, tên Phương là một tên của mẹ của ông (Công Tằng Tôn Nữ Phương Nhi), nên khi bắt đầu sáng tác ông ghép lại là “Lê Uyên Phương”. Nhưng khi đi hát chung, người vợ của ông không muốn xài tên thật, nên ông đã tách biệt hiệu mình ra thành : Lê Uyên và Phương và trở thành đôi song ca tưởng chừng không thể chia lìa, ngăn cách.

Lê Uyên Phương và 2 cô con gái đã vượt biên năm 1979 và sang định cư tại Hoa Kỳ. Họ đã cộng tác với nhiều chương trình video của Asia. Ngày 19 tháng 6 năm 1999 ca nhạc sĩ Phương đã mất tại California vì chứng ưng thư phổi. Ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác rất đồ sộ với những tuyển tập nhạc đã xuất bản như Khi Loài Thú Xa Nhau (1970), Yêu Nhau Khi Còn Thơ (1971), Biển, Kẻ Phán Xét Cuối Cùng (1980)và một tập truyện, tùy bút Không Có Mây Trên Thành Phố Los Angeles (1990). Những tập nhạc đã hoàn tất nhưng chưa ấn hành là : Uyên Ương Trong Lồng (1970-1972), Bầu Trời Vẫn Còn Xanh (1972-1973), Con Người Một Sinh Vật Nhân Tạo (1973-1975), Trại Tỵ Nạn và Các Thành Phố Lớn (1987-1988), Diệp Lục Tố (1977-1990).

Chương trình Asia 59 đã kết thúc với một liên khúc gồm những bài hát tiêu biểu nhất của Lê Uyên Phương và đặc biệt bất ngờ có sự xuất hiện của ca sĩ Lê Uyên và đôi song ca của thế hệ tiếp nối là Phương Thảo và Ngọc Lễ. Những âm thanh, hình ảnh của liên khúc Lê Uyên Phương hợp cùng tất cả nam nữ nghệ sĩ hiện diện đã khiến cho phần kết thúc của chủ đề “Một Thời Để Nhớ” như bao gồm hầu hết những giòng nhạc tiêu biểu của nền âm nhạc Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại qua nhiều thế hệ cùng đứng chung với nhau.

Tóm lại đây là một chương trình ca nhạc mang đầy tính nghệ thuật không những làm cho nhiều người thuộc thế hệ ông bà cô bác nhớ lại một thời quá khứ ngày xưa trên quê hương mà còn khiến cho thế hệ tiếp nối (con cháu) sau này có dịp nhìn lại hình ảnh, nghe lại âm thanh của nhiều thập niên từ trong nước kéo dài ra tới hải ngoại. Asia 59 xứng đáng là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật để mọi gia đình cùng thưởng thức và lưu giữ hoặc trao gởi cho nhau như một món quà lưu niệm của những người cùng chung sở thích.

10.10.2008